Bùi Thị Phương Quỳnh

                      Khoa Luật – Trường Đại học Vinh

 

 

1. Pháp luật về ma túy.

1.1. Khái niệm ma túy.

Theo luật phòng chống ma túy thì ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục được Chính phủ ban hành.

Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.

Chất hướng thần là chất kích thích ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự anh ninh toàn xã hội, an ninh quốc gia.

Do sự gây hại rất lớn của ma túy đối với xã hội trên nhiều lĩnh vực như sức khỏe con người, hạnh phúc gia đình, nói giống dân tộc, trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia, nên Nhà nước mới quy định các hành vi. Trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây có chứa chấy ma túy, hành vị sản xuất trái phép chất ma túy, hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tú, hoặc chiếm đoạt ma túy được coi là tội phạm và bị xử lý theo pháp luật hình sự. Trong Bộ luật Hình sự (BLHS sửa đổi 2009) quy định các tội về ma túy là:

- Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 192).

- Tội Sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 193).

- Tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194).

- Tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 195).

- Tội Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 196).

- Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197).

- Tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198).

- Tội Cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200).

- Tội Vi phạm quy định về quản lý sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác (Điều 201).

Tổng cộng có 09 (chín) điều luật quy định về ma túy.

BLHS được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 giữ nguyên các tội về ma túy quy định trong Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 và được sửa đổi bổ sung vào ngày 19/06/2009 nhưng có khác là chia tách các điều 194, Điều 200 trong BLHS năm 2009 thành các tội riêng biệt. Cụ thể là Điều luật 194 trong BLHS năm 2009 được chia tách thành 04 (bốn) tội quy định trong BLHS năm 2015 đó là: Điều 249: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Điều 250: Tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Điều 251: Tội Mua bán trái phép chất ma túy. Điều 252: Tội chiếm đoạt chất ma túy.

Điều 200 trong BLHS năm 2009 chia tách thành 02 (hai) tội quy định trong BLHS năm 2015, đó là: Điều 257: Tội Cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Điều 253: Tội Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Các tội về ma túy được quy định trong BLHS sửa đổi cũng như quy định trong BLHS được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 là phản ánh quá trình diễn biến của tội phạm về ma túy và cũng thể hiện ý chí của Nhà nước Việt Nam đấu tran với loại tội phạm ma túy. Trong BLHS được Quốc hội thông qua ngày 27/06/1985 chỉ quy định về một tội ma túy, đó là tội: "Tổ chức dùng chất ma túy" quy định tại Điều 203. Tội này được giữ nguyên trong các lần sửa đổi bổ sung BLHS năm 1985 vào ngày 22/12/1989, sửa đổi bổ sung vào ngày 12/08/1991, sửa đổi bổ sung vào ngày 22/12/1992. Lần sửa đổi bổ sung vào ngày 10/05/1997 đã cấu tạo một Chương quy định các tội phạm về ma túy đó là Chương số VII A. Trong chương này có 13 Điều luật quy định về 13 tội. Cụ thể là:

- Điều 185a: Quy định tội Trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây có chứa chất ma túy. Hình phạt cao nhất là 7 năm tù.

- Điều 185b: Quy định tội sản xuất trái phép chất ma túy. Hình phạt cao nhất là tử hình.

- Điều 185c: Quy định rội tàng trữ trái phép chất ma túy. Hình phạt cao nhất là tử hình.

- Điều 185d: Quy định tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Hình phạt cao nhất là tử hình.

- Điều 185đ: Quy định tội mua bán trái phép chất ma túy. Hình phạt cao nhất là tử hình.

- Điều 185e: Quy định tội chiếm đoạt chất ma túy. Hình phạt cao nhất là tử hình.

- Điều 185g: Quy định tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy. Hình phạt cao nhất là chung thân.

- Điều 185h: Quy định tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy. Hình phạt cao nhất là mười năm tù.

- Điều 185i: Quy định tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hình phạt cao nhất là tử hình.

- Điều 185k: Quy định tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Hình phạt cao nhất là mười lăm năm tù.

- Điều 185l: Quy định tội sử dụng trái phép chất ma túy. Hình phạt cao nhất là năm năm tù.

- Điều 185m: Quy định tội Cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Hình phạt cao nhất là tử hình.

- Điều 185n: Quy định tội Vi phạm về quản lý sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác. Hình phạt cao nhất là tù chung thân.

Như vậy là, BLHS năm 1985 được sửa đổi bổ sung vào ngày 10/05/1997 đánh dấu sự kiện mới trong đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy. Cụ thể là có 13 Điều luật quy định tội về ma túy. Các tội về ma túy trên các lĩnh vực là:

- Trông cây chứa chất ma túy, sản xuất trái phép chất ma túy.

- Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy.

- Mua bán trái phép chất ma túy.

- Chiếm đoạt chất ma túy.

- Sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

- Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy.

- Cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

- Tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy.

- Tàng trữ, vận chuyển, sản xuất, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy.

- Về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác.

Các tội về ma túy mà chúng tôi trình bày ở trên tiếp tục được Quy định trong BLHS được Quốc hội thông qua vào ngày 27/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016 (từ Điều 247 đến Điều 259).

Hình phạt đối với tội phạm về ma túy có: Hình phạt chính và hình phạt bổ sung.

          Hình phạt chính có các hình phạt sau:

          - Tù có thời hạn.

          - Tù chung thân.

          - Tử hình.

          Hình phạt bổ sung có các loại hình phạt sau:

          - Phạt tiền.

          - Giảm chế.

          - Tịch thu tài sản.

          - Cấm đảm nhiệm chức trong một thời gian.

          - Cấm hành nghề hoặc cấm làm công việc nhất định trong một thời gian.

Đối với hình phạt tử hình thì giảm dần. Cụ thể là: Trong BLHS năm 1985 được sửa đổi bổ sung vào ngày 10/05/1997 hình phạt tử hình áp dụng đối với các tội là:

- Tội Sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 185b).

- Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 185c).

- Tội Mua bán trái phép chất ma túy (Điều 185d).

- Tội Vận chuyển trái phép chất ma túy(Điều 185đ).

- Tội Chiếm đoạt chất ma túy(Điều185e).

- Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185i).

- Tội Cưỡng chế người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185m).

- Tội Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185n).

Trong BLHS năm 1999 được sửa đổi bổ sung vào ngày 19/06/2009 đã bãi bỏ hình phạt tử hình đối với 03 (ba) tội là các tội sau đây:

          - Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

          - Cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

          - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Do đó, hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với 05 (năm) tội sau đây:

          - Tội Sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 193).

          - Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 194).

          - Tội Vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 194).

          - Tội Mua bán trái phép chất ma túy (Điều 194).

          - Tội Chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194).

Trong BLHS được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016 đã bãi bỏ hình phạt tử hình đối với hai tội về ma túy là các tội sau đây:

          - Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

          - Tội Chiếm đoạt chất ma túy.

Do đó, hình phạt tử hình đối với các tội về ma túy chỉ áp dụng đối với ba tội sau đây:

          - Tội Sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248).

          - Tội Vận chuyển trái phép trái phép chất ma túy (Điều 250).

          - Tội Mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251).

BLHS năm 2015 giảm hình phạt tử hình đối với một số tội, trong đó có hai tội về ma túy là thực hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam đối với người phạm tội, đông thời, đây cũng là thông điệp của nước ta gửi thế giới khẳng định sự hội nhập quốc tế trong đấu tranh chống tội phạm.

1.2. Chất ma túy và tiền chất.

a, Chất ma túy:

Khái niệm ma túy chúng tôi đã trình bày ở phần đầu bài viết này là chất gay nghiện, chất hướng thần. Chất ma túy không phải cá nhân tự đặt chất này chất kia là ma túy, mà do tổ chức quốc tế quy định thống nhất toàn thế giới. Vì tội phạm về ma túy xảy ra trong nhiều nước trên thế giới và trong Công ước quốc tế vào các năm 1961, năm 1971, năm 1977 và năm 1988 đã quy định chất ma túy và tiền chất.

Ngày 02/01/1998 Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an đã ban hành Thông tư Liên tịch số 01/1998/TTLT-TANDTC - VKSNDTC - BNV hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự. Ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này là danh mục chất ma túy tiền chất. Cụ thể là:

Bảng I. Các chất ma túy rất độc, tuyệt đối cấm sử dụng. Các chất này có trong Bảng IV công ước quốc tế năm 1961 và có trong Công ước quốc tế năm 1977. Bảng này có 44 chất bao gồm: Acetorphin, Cần sa nhựa cần sa, Heroine, Etorphine ...

Bảng II. Các chất ma túy độc hại được dùng hạn chế trong  y học và nghiên cứu khoa học. Các chất trong Bảng II Công ước quốc tế năm 1971. Bảng này có 113 chất bao gồm: Actylmethadone, Alfontonil, Alylprodine ...

Bảng III. Các chất ma túy độc dược được dùng trong y tế. Các chất ma túy trong Bảng III có trong Bảng III và Bảng IV Công ước quốc tế năm 1971. Bảng này có 68 chất bao gồm: Amobarbital, Buprenonrphine, Butalbital, Cothine ... (Xem các trang từ trang số 63 đến trang số 74 Cuốn về các văn bản hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng Tòa án nhân dân tối cao xuất bản năm 1998).

Các chất ma túy mà chúng tôi giới thiệu ở trên được Chính phủ nước ta ghi trong Danh mục I, Danh mục II và Danh mục III ban hành theo nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 của Chính phủ.

b, Tiền chất và các chất hóa học tham gia vào quá trình chế tạo các chất ma túy.

Bảng IV được ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 02/01/1998 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm soát nhân dân tối cao - Bộ nội vụ (nay là Bộ công an). Bảng IV có 22 chất. Các chất trong Bảng IV có trong Bảng I, Bảng II Công ước quốc tế năm 1988 bao gồm: Ephedrine, Ergomtrine, Ergotamine ... (Xem trang số 75 Cuốn các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng của TAND tối cao xuất bản năm 1998). Ngày 06/11/2003 Chính phủ ban hành Nghị định số 133/2003/NĐ-CP bổ sung một số chất vào danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèo theo Nghị định số 76/2001/NĐ-CP  ngày 01/10/2001 của Chính phủ bổ sung 18 hóa chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất điều chế chất ma túy (Xem trang số 15 Cuốn các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế lao động, hành chính và tố tụng của Tòa án nhân dân tối cao xuất bản năm 2004). Trong 18 hóa chất bổ sung có Acetic Avol, N.Ethylephedrine, N.Methylephedrine ...

Các tiền chất và các chất hóa học tham gia vào quá sản xuất điều chế chất ma túy mà chúng tôi giới thiệu ở trên được Chính phủ nước ta ghi trong Danh mục IV ban hành theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 của Chính phủ.

2. Thực tiễn đấu tranh chống phạm ma túy ở nước ta.

2.1. Một số vấn đề chung về tội phạm.

Tội phạm về ma túy nói chung là không giảm mà có chiều hương tăng năm sau nhiều hơn năm trước về số vụ ma túy, số người thực hiện hành vi phạm tội. Nguồn ma túy ở trong nước có ít, mà chủ yếu là từ nước ngoài đem vào Việt Nam, đặc biệt là từ Vùng Tam giác vàng Lào - Myanma - Tây Bắc Việt Nam. Ma túy sản xuất ở trong nước như trồng cây có chất ma túy bao gồm thuốc phiện được trồng nhiều ở vùng Biên giới Tây Bắc, Đông Bắc Bộ và miền núi ở các tỉnh Bắc Miền Trung từ Thanh Hóa đến Quảng Trị. Cây cần Sa trồng ở các tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh phía Nam. Số người sản xuất ma túy theo công thức tiên tiến không nhiều. Ma túy từ nước ngoài đem vào Việt Nam chủ yếu là Heroin và ma túy tổng hợp. Quá trình đấu tranh chống loại tội phạm này, có một số đặc điểm sau đây:

a, Tội phạm đa dạng, phức tạp:

Các tội về ma túy quy định trong BLHS đều xảy ra trong thực tế, nhưng phần lớn là các tội: Mua bán trái phép chất ma túy, vận chuyển trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy, sử dụng trái phép chất ma túy. Tội phạm xảy ra trong khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước,không phân biệt người già người trẻ tuổi, không phân biệt nam hay nữ, không phân biệt người dân tộc đa số hay người dân tộc thiểu số. Tội phạm diễn biến phức tạp. Cụ thể là:

a.1) Tội trồng cây có chứa chất ma túy. Người phạm tội này là ít, nhưng không xóa bỏ được trồng cây thuốc phiện, cây cần sa. Xóa bỏ nơi này, người dân trồng nơi khác, trồng rải rác trên sườn núi cao. Cây cần sa trồng ở Tây Nguyên ở các tỉnh Đông Nam Bộ có xu hướng tăng hoặc trồng xen kẽ với các cây trồng khác.

a.2) Tội Sản xuất trái phép chất ma túy (loại ma túy tổng hợp). Có một số người Việt Nam từng ở nước ngoài có kiến thức, kinh nghiệm, có công thức sản xuất chất ma tuy hoặc có người tìm hiểu trên mạng Internet mua chất hóa học hoặc mua một số thuốc chữa bệnh ho, chữa bệnh cảm cúm để sản xuất chất ma túy tổng hợp. Loại tội này đã bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý tại các địa phương Hải Phòng, Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hóa, Thành phố Hồ Chí Minh.

a.3) Tội mua bán trái phép chất ma túy, loại tội này có nhiều nhưng điều phát hiện bắt là khó khăn. Vì kẻ bán người mua luôn thay đổi địa điểm. Người mua bán trái phép sử dụng mọi phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không. Có vụ bắt giữ tại ga Hà Nội, Bị can vận chuyển 10.000 viên ma túy tổng hợp với mục đích mang tới tỉnh phía nam để bán. Người mua bán trái phép khi bị cơ quan chức năng phát hiện và vây bắt đã sẵn sàng dùng dao, dùng súng bắn trả để chạy trốn. Ví dụ Tráng A Chư ở tỉnh Hòa Bình khi bị Công an vây bắt,  Chư đã chống trả bằng cách đâm thẳng xe ô tô vào vị trí công an vây bắt: hậu quả về hành vi liều mạng của Chư là làm chết một người và làm bị thương một người.

Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy còn xảy ra tại Trại giam, Trại cải tạo người chấp hành án phạt, tại cơ sở cai nghiện ma túy. Cụ thể là đã phát hiện bắt giữ người mua bán trái phép chất ma túy tại Trại Tân Lập (tỉnh Phú Thọ), tại Trại Gia Trung (tỉnh Gia Lai), tại Trại giam Hà Nội, tại Trại Xuyên Mộc (tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu).

Phương tiện giao tiếp mua bán trái phép chất ma túy phần lớn là sử dụng điện thoại di động. Ví dụ vụ Phạm Thị Ngoan và các đồng phạm ở tỉnh Nam Định đã bị tòa án tỉnh Nam Định xử phạt tử hình đối với Phạm Thị Ngoan, xử phạt tù chung thân đối với Phạm Hồng Thân, xử phạt 15 năm tù đối với Trần Văn Vĩnh, xử phạt 12 năm tù đối với Nguyễn Kim Hồng đều về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Trong vụ án này, Ngoan và Thân là chị em ruột còn Vĩnh và Hồng là vợ chồng. Hành vi phạm tội của những người này là: Ngày 09/10/2012, Vĩnh gọi điện thoại di động cho vợ là Hồng liên hệ với Ngoan để mua ma túy. Ngoan đã mua bán cho bán cho Hồng 1 cây Heroine có trọng lượng 34,448g (Thân đem Heroine đến nhà Hồng và giao cho Hồng). Vĩnh đem Heroine đi bán cho người khác thì phát hiện và bắt giữ cùng vật chứng. Khám nơi ở của Ngoan và Thân, cơ quan điều tra thu được một số Heroine. Do đó, Ngoan và Thân phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 1.571,75g Heroine. Còn Vĩnh và Hồng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 34,448g Heroine.

b, Tội phạm ma túy có tính chất quốc tế.

 Nước ta không phải là nước sản xuất nhiều ma túy, nhưng số lượng người sử dụng ma túy lại tăng. Theo quy luật cung cầu, nơi có yêu cầu thì có người cung. Nhiều người muốn kiếm tiền bằng mọi giá đã không cần biết đến pháp luật mà làm theo ý của mình, nên nước ta vừa là nơi tiêu thụ ma túy vừa là nơi trung chuyển ma túy đi nước khác. Có người Việt Nam ra nước ngoài mua ma túy về Việt Nam bán, nên đã có trường Công an bắt giữ một người Việt Nam vận chuyển trái phép ba bánh Heroine từ Lào vào Việt Nam để bán đã bị bắt giữ tại bến xe Mỹ Đình, Hà Nội. Có người nước ngoài vận chuyển trái phép ma túy vào Việt Nam để bán. Ví dụ cách đây vài năm, một công dân Lào có tên là Kona Thor Xay Tou Yong Seng vận chuyển trái phép 681,53gam từ Lào vào Việt Nam với mục đích để bán đã bị bắt giữ tại tỉnh Lào Cai, Tòa án Việt Nam đã xử người này tù chung thân về tội mua bán trái phép chất ma túy. Có người nước ngoài vận chuyển trái phép chất ma túy từ nước ngoài vào Việt Nam để đi đến nước khác bán. Cách đây vài năm trên tuyến đường biển từ Việt Nam đi Úc Công an nước ta bắt giữ năm người (có người nước ngoài, có người Việt Nam) vận chuyển trái phép 11kg ma túy đá từ Trung Quốc vào Việt Nam để đi Úc bán. Một trường hợp khác, là Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ người Quốc tịch Thái Lan tại sân bay Tân Sơn Nhất vận chuyển trái phép 3,07kg ma túy tổng hợp từ nước ngoài vào Việt Nam với mục đích đem số ma túy đó đến nước khác để bán ...

2.2. Văn bản pháp luật về ma túy với tội phạm ma túy.

a, Đối với Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP.

Ngày 24/12/2007 Bộ Công an - Viện kiểm soát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ tư pháp ban hành Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999. Tại tiểu mục 1.4, Mục 1, Phần I trong Thông tư liên tịch này có hướng dẫn như sau: “Trong mọi trường hợp khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì phải được trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất”. Chúng tôi nhận thấy, hướng dẫn này là không đúng với quy định của BLHS năm 1999. Cụ thể là các Điều 193, Điều 194, Điều 195 đều quy định trọng lượng chất ma túy mà không quy định hàm lượng chất ma túy. Ví dụ Điều 193 quy định tội sản xuất trái phép chất ma túy quy định như sau: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm”.

          a, Có tổ chức

          .......................

          .......................

          đ, Nhựa Thuốc phiện, nhựa Cần sa hoặc Cocain có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilogam.

          e, Heroine hoặc Cocain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam.

          .......................

Ví dụ 2. Điều 194 quy định tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy”. Khoản 2 Điều luật này quy định như sau: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm”

          “a, Có tổ chức.

          .......................

          “h, Heroine hoặc Cocain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam.

          .......................

Thông tư liên tịch số số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm soát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ tư pháp chưa sửa đổi nội dung hướng dẫn không đúng với quy định của BLHS, thì ngày 17/09/2014, Tòa án nhân dân tối cao có Công văn số 234/TANDTC-HS gửi các cấp Tòa án trong cả nước có nội dung là: Theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17 nêu trên thì  trong mọi trường hợp đều phải trưng cầu giám định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất ... Tòa án Nhân dân tối cao thấy còn có nhiều trường hợp Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào kết quả giám định về trọng lượng của chất được nghi là chất ma túy để kết tội các bị cáo mà không yêu cầu xác định hàm lượng chất ma túy ... là áp dụng không đúng quy định của BLHS và hướng dẫn của liên ngành ... Để khắc phục ngay tình trạng này ... bắt buộc phải giám định hàm lượng của các chất ma túy trong các chất thu giữ nghi là chất ma túy ...” Sau khi có Công văn số 234/TANDTC-HS ngày 17/09/2014 của TANDTC, thì các hồ sơ vụ án về ma túy phải đắp chiếu chờ giám định hàm lượng chất ma túy mà Cơ quan Điều tra đã thu giữ và đã kết lượng trọng lượng chất ma túy là vật chứng vụ án. Các vụ án về ma túy chưa xử lý được ngay vì phải chờ giám định hàm lượng cho đến ngày Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 của Bộ Công an - Viện kiểm soát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ tư pháp có hiệu lực thi hành thì các vụ án chưa được xử lý mới đưa ra xét xử. Tuy nhiên, "hàm lượng" ma túy vẫn chưa cắt đứt được người tiến hành tố tụng tại phiên tòa.

Tìm hiểu về giám định hàm lượng chất ma túy, chúng tôi được biết, hàm lượng chất ma túy là căn cứ để xác định trọng lượng chất ma túy. Do đó việc giám định hàm lượng chất ma túy chỉ có ý nghĩa để xác định trọng lượng chất ma túy và khi cơ quan có thẩm quyền đã công bố trọng lượng chất ma túy thu giữ của người thực hiện hành vi phạm tội về ma túy thì được hiểu là đã giám định hàm lượng chất ma túy đó.

Các tội về ma túy quy định tại các Điều 248, Điều 249, Điều 250, Điều 251, Điều 252, Điều 253 trong BLHS năm 2015 tiếp tục quy định trọng lượng chất ma túy tại các khung hình phạt tăng nặng mà hoàn toàn không quy định hàm lượng chất ma túy. Do đó, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần sớm có hướng dẫn về việc thực hiện của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 mà chúng tôi đã trình bày ở trên.

b, Đối với Chỉ thị số 32/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ.

Ngày 31/10/2014 Thủ tướng Chính phủ có chỉ thị số 32/CT-TTg đẩy mạnh về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Phần đầu của Chỉ thị này Thủ tướng Chính phủ đánh giá tình hình điều trị là: ...” Chính phủ đã ban hành Nghị định số 96/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng chất thay thế (sau đây gọi tắt là Nghị định số 96/2012/NĐ-CP). Các Bộ ngành liên quan đã ban hành các hướng dẫn và huy động nguồn lực để hỗ trợ địa phương triển khai thực hiện, trong đó tập trung triển khai mở rộng điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng chất Methadone.

Trọng điểm của nhiệm vụ cấp bách số 1 Thủ tướng chỉ thị như sau: “Khẩn trương xây dựng kế hoạch đồng thời đảm bảo lồng ghéptriệt để cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực và kinh phí để tổ chức triển khai kế hoạch điều trị bằng thuốc Mhethadone đạt chỉ tiêu được giao ...”

Theo chỉ thị 32/CT-TTG của Thủ tướng Chính phủ mà chúng tôi đã trình bày ở trên thì thuốc Methadone là thuốc để điều trị người nghiện các chất dạng thuốc phiện. Tuy nhiên, Chỉ thị 32/CT-TTG của Thủ tướng Chính phủ lại chưa đi vào đời sống pháp luật. Cụ thể là: Cáo trạng số 487/CT-VKS ngày 25/11/2015 của VKSND quận Đ, thành phố H tuy tố bị can Nguyễn TA ra trước tòa án Nhân dân quận Đ về tội mua bán trái phép chất ma túy với hành vi phạm tội như sau: Khoảng 19h30’ ngày 27/07/201  2, bị can TA có hành vi bán cho Nguyễn T 01 lọ nhựa chứa 7ml dung dịch màu hồng có thành phần Methadone nồng độ Methadone là 0,674/ml đã bị bắt cùng vật chứng. Việc VKSND quận Đ thành phố H cáo bị can TA ra trước TAND quận Đ vì hành vi mua bán trái phép chất ma túy là rõ ràng bị bắt quả tang.

Ý kiến khác không đồng tình việc truy tố bị can TA với lý do là hành vi của bị can TA không đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm, cụ thể là: Không có mặt chủ quan của tội phạm, thể hiện: Bị can TA là bác sỹ cai nghiện ma túy của Viện HH. Anh Nguyễn T (người mua lọ thuốc Methadone của bị can TA) là người nghiện chất ma túy đang chữa trị bệnh nghiện chất ma túy. Trước khi bị can TA bán cho anh T lọ thuốc Methadone thì anh T gọi điện thoại cho bị can TA với nội dung là cần mua thuốc chữa bệnh nghiện chất ma túy. Như vậy, bị can hành động với ý thức chủ quan (động cơ và mục địch) là bán thuốc để chữa bệnh cho người bệnh. Còn thuốc Methadone là loại thuốc điều trị người nghiện chất ma túy. Nội dung này được làm rõ tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất.

Chúng tôi đồng tình với Cáo trạng của VKSND quận Đ, thành phố H. Vì hành vi của bị can TA không đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm. Cụ thể là không có yếu tố: Mặt chủ quan của tội phạm. Một tình tiết khác cần quan tâm là: Methadone là chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế. Chất Methadone có trong Danh mục II ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 của Chính phủ. Dung dịch Methadone mà bị can TA bán cho anh T là lọ thuốc Methadone thông thường và thuốc Methadone được Chính phủ xác định là thuốc để điều trị người nghiện chất ma túy và Thủ tướng Chính phủ xác nhận trọng chỉ thị số 32/CT-TT ngày 31/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định “Cơ quan Điều tra, Viện kiểm soát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan toàn diện và đầy đủ ...” Vụ án này, Tòa án nhân dân quận Đ đã trả hồ sơ vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung theo quy định tại Điều 176 của BLTTHS là thực hiện đúng Điều 10 của BLTTHS.Tuy nhiên, khi thực hiện Điều 10 của BLTTHS lại cần phải thực hiện đúng nội dung quy định trong Điều 10 là: “...phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án ...” Các biện pháp hợp pháp là các biện pháp được quy định trong BLTTHS về điều tra, truy tố và xét xử  và văn bản pháp luật khác có liên quan. Ví dụ Luật Tổ chức điều tra, Luật giám định tư pháp, Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện quy định của pháp luật về điều tra, truy tố và xét xử nhằm mục đích để không kết án oan người vô tội.

3. Ý kiến kề nghị.

Ma túy vẫn là hiểm họa đối với con người. Tội phạm về ma túy chưa giảm mà lại diễn biến ngày một phức tạp mọi lúc mọi nơi. Thủ đoạn phạm tội lắt léo, tinh vi hơn, người thực hiện hành vi phạm tội hung hăng liều lĩnh hơn ...

Chống lại tội phạm này cần có sự chỉ đạo thường xuyên của Nhà nước, có sự kiên quyết, sát sao của người chỉ huy, có sự tận tụy sáng tạo của người trực tiếp đối mặt với người phạm tội, có sự đồng tình, hợp tác của nhân dân, của cơ quan chức năng có thẩm quyền. Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh tội phạm về ma túy chúng tôi đề nghị một số vấn đề sau đây:

Một là: Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật về chống tội phạm ma *túy. Tiếp tục chỉ đạo các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương thực hiện tốt nghị định 96/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất thuốc phiện bằng thuốc thay thế và thực hiện tốt chỉ thị số 32/CT-TT ngày 31/10/2014 của Thủướng Chính phủ về đẩy điều trị nghiện các chất dạg thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Hai là: Chính phủ có chỉ đạo kiểm tra rà soát lại các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với tội phạm về ma túy trong điều tra, truy tố, xét xử. Kiên quyết thu hồi bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với Bộ luật và Luật. Ví dụ Thông tư liên tịch số số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm soát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm ma túy” của BLHS năm 1999. Thông tư có nội dung không đúng với quy định của BLHS ở chỗ: quy định bắt buộc phải giám định hàm lượng đối với chất thu giữ được nghi là chất ma túy hoặc tiền chất sử dụng vào sản xuất trái phép chất ma túy. Hậu quả của Thông tư này là có nhiều vụ án không xét xử kịp thời vì lý do: Không có hàm lượng chất ma túy. Trong khi đó, các Điều 193, Điều 194, Điều 195 của Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung vào ngày 19/06/2009 đều không quy định phải có hàm lượng chất ma túy.

Ba là: Các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự: Có kế hoạch học tập nghiệp vụ hàng năm để nhận thức thống nhất pháp luật, để không xảy ra việc nhận thức không thống nhất, như trường hợp nhận thức không thống nhất Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 mà chúng tôi trình bày ở trên.