Tóm tắt

Bài viết nêu ra luận điểm chương trình giảng dạy học phần Luật Cạnh tranh hiện nay ở một số trường Đại học ở Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu và áp dụng Luật cạnh tranh, đặc biệt sau khi Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 được ban hành. Để làm rõ luận điểm đó, bài viết trình bày về vai trò của kinh tế học trong Luật cạnh tranh theo quan niệm của các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam. Cùng với đó, tác giả chỉ ra một số điểm hạn chế trong chương trình giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật và đề xuất một số giải pháp nhằm bổ sung, sửa đổi chương trình nhằm phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

1. Dẫn nhập

Cuộc họp của các chuyên gia thương mại của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD năm 1991 kết luận rằng: cùng với pháp luật môi trường, chính sách cạnh tranh sẽ trở thành  tâm điểm trong những buổi họp bàn về hợp tác kinh tế thế giới[1]. Bên cạnh việc phản ánh sự phát triển của luật cạnh tranh ở các quốc gia, dự báo này còn thể hiện sự liên hệ chặt chẽ giữa chính sách cạnh tranh và chính sách thương mại, theo đó, chính sách cạnh tranh của các quốc gia chịu sự tác động từ kinh tế toàn cầu và ngược lại. Do đó, việc nghiên cứu luật cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế và cùng với kinh tế học là nhu cầu tất yếu. Vai trò của kinh tế học trong việc nghiên cứu, xây dựng và áp dụng luật cạnh tranh quan trọng đến mức các lý thuyết kinh tế học áp dụng trong chuyên ngành luật gần như đồng nghĩa với kinh tế học trong luật chống độc quyền/luật cạnh tranh đến tận những năm sáu mươi của thế kỷ 20[2]. Mặc dù các học thuyết kinh tế được áp dụng trong một số lĩnh vực như luật doanh nghiệp, luật thuế hay luật hình sự, việc sử dụng kinh tế học vẫn được biết nhiều hơn trong các lĩnh vực luật cạnh tranh[3].

Mặc dù một số trường Đại học đưa học phần Kinh tế vi mô vào chương trình đào tạo chuyên ngành Luật và Luật Kinh tế, bài viết nhấn mạnh rằng chương trình giảng dạy học phần Luật Cạnh tranh tại một số cơ sở đào tạo ở Việt Nam chưa đáp ứng hàm lượng kiến thức kinh tế học trong môn học Luật Cạnh tranh mà sinh viên cần hiểu. Không chỉ vậy, đa số các chương trình giảng dạy và giáo trình môn học về Luật cạnh tranh Việt Nam đều dựa vào quy định trong Luật Cạnh tranh được ban hành cách đây 15 năm với hàm lượng ít ỏi tư duy kinh tế trong việc đánh giá tác động cạnh tranh của hành vi kinh tế. Do đó, việc nhấn mạnh sự kết hợp của tư duy kinh tế và tư duy pháp lý trong Luật Cạnh tranh năm 2018 là cú hích quan trọng đỏi hỏi các nhà khoa học tại các đơn vị đào tạo luật sửa đổi, bổ sung nội dung kinh tế học trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy và áp dụng luật mới. Cập nhật nội dung giảng dạy còn là hoạt động quan trọng nhằm nâng cao cơ hội công việc cho sinh viên, người hành nghề luật bởi khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế trong lĩnh vực luật cạnh tranh. Với cách tiếp cận đó, tác giả nghiên cứu nhằm làm rõ sự chưa thích ứng của các chương trình đào tạo hiện nay với yêu cầu mới trong lĩnh vực này.

Sau lời dẫn nhập, bài viết giải quyết luận điểm chính thông qua ba nội dung. Phần thứ nhất làm rõ sự cần thiết của việc nghiên cứu và giảng dạy kinh tế học trong học phần Luật Cạnh tranh ở các trường Đại học ở Việt Nam hiện nay. Bài viết giới thiệu cách tiếp cận kinh tế học trong học phần Luật Cạnh tranh trong chương trình đào tạo nghề luật Juris Doctor của trường Luật Melbounre, thuộc trường Đại học Melbounre, Úc trong phần thứ hai. Từ đó, phần Ba của bài viết bao gồm một số gợi ý trong cách tiếp cận nhằm giảng dạy nội dung kinh tế học trong Luật Cạnh tranh ở một số trường Đại học ở Việt Nam. Phần kết luận sẽ tóm tắt các luận điểm chính được đưa ra trong bài viết và gợi mở những hướng nghiên cứu cho các đề tài tiếp theo.

2.                  Sự cần thiết trong việc giảng dạy kinh tế học trong học phần Luật Cạnh tranh tại các trường Đại học ở Việt Nam hiện nay

2.1.            Vai trò của kinh tế học trong nghiên cứu, xây dựng và áp dụng Luật Cạnh tranh

Tư duy kinh tế là một phần quan trọng trong việc hiểu và áp dụng Luật cạnh tranh bởi các lý do sau đây.

Thứ nhất, nghiên cứu và áp dụng luật cạnh tranh cần có tư duy kinh tế bởi văn bản này ra đời gắn với các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp trên thị trường[4]. Một trong những mục tiêu của việc ban hành Luật Cạnh tranh là duy trì tính cạnh tranh của thị trường và kiểm soát các hành vi nhằm hạn chế, cản trở cạnh tranh trên thị trường[5]. Mục tiêu này xuất phát từ sự thừa nhận và phát triển nền kinh tế tự do, theo đó các doanh nghiệp được quyền quyết định các hoạt động kinh doanh. Nhằm tối đa hoá lợi nhuận, các doanh nghiệp có thể cạnh tranh bằng cách khai thác tối đa các nguồn lực nhằm giảm giá thành, nâng cao chất lượng và lôi kéo khách hàng. Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh gay gắt cũng là động cơ cho các hành vi hợp tác nhằm thủ tiêu cạnh tranh của các doanh nghiệp. Theo đó, các chủ thể này có thể cắt giảm số lượng và tăng giá bán của hàng hoá dịch vụ, dẫn tới thiệt hại cho người tiêu dùng và giảm hiệu quả kinh tế[6]. Do đó, các Nhà nước hiện nay sử dụng Luật cạnh tranh như một công cụ chủ yếu nhằm bảo vệ sự cạnh tranh và kịp thời điều chỉnh các hành vi kinh tế có mục đích cản trở cạnh tranh trên thị trường[7].

Thứ hai, tư duy kinh tế hỗ trợ cho việc xây dựng và áp dụng luật cạnh tranh bởi chủ thể quản lý hiểu tác động của các hành vi kinh tế lên thị trường, từ đó xây dựng và ban hành các quy định phù hợp[8]. Trong những hoàn cảnh khác nhau, một hành vi có thể hạn chế cạnh tranh trên thị trường nhưng có thể cải thiện hiệu quả kinh tế. Do vậy, việc ngăn cấm doanh nghiệp thực hiện một loại hoạt động kinh tế mà không xem xét tác động kinh tế của nó lên thị trường có thể làm giảm hiệu quả kinh tế trong một lĩnh vực kinh doanh. Ví dụ, hành vi bán hàng với mức giá thấp hơn chi phí của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường có thể loại bỏ đối thủ có năng lực tài chính thấp, từ đó giúp doanh nghiệp có vị trí độc quyền và tăng giá bán hàng cao hơn nhiều so với mức giá trước đây. Tuy nhiên, hành vi bán hàng với mức giá thấp lại không gây ra hậu quả đó khi sản phẩm là hàng hoá tươi sống và cần tiêu thụ trong ngày[9]. Với cách tiếp cận đó, pháp luật cạnh tranh sẽ bao gồm các trường hợp ngoại lệ liên quan đến hành vi trên. Mức độ áp dụng về tư duy kinh tế ảnh hưởng tới sự khác nhau trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật ở các thời kỳ và ở từng quốc gia. Ví dụ, trước khi thừa nhận và phát triển học thuyết của trường Chicago những năm 1980, các doanh nghiệp Mỹ phải rất cẩn trọng khi thực hiện các hành vi có tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường[10]. Tuy nhiên, với sự coi trọng hiệu quả kinh tế như là nội dung chủ chốt của học thuyết Chicago, cơ quan quản lý cạnh tranh nước này cho phép doanh nghiệp được thực hiện hành vi có hậu quả làm hạn chế cạnh tranh trong trường hợp hiệu quả kinh tế của hành vi đó lớn hơn mức độ gây hại[11]. Ở Cộng đồng chung Châu Âu (EU), việc xây dựng và áp dụng pháp luật cạnh tranh cũng chịu ảnh hưởng bởi tư duy kinh tế từ những năm 1990. Tuy nhiên pháp luật cạnh tranh EU không chỉ đơn thuần áp dụng học thuyết Chicago về coi trọng hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp mà còn coi trọng các yếu tố khác như an ninh quốc gia hay quyền lợi của người tiêu dùng [12].

Thứ ba, cùng với việc xây dựng và áp dụng quy định của Luật cạnh tranh, tư duy kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các tiêu chí xác định mức độ cản trở cạnh tranh và xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng của các hành vi kinh tế[13]. Ví dụ, trong hành vi tập trung kinh tế như sáp nhập, hợp nhất, cơ quan quản lý cạnh tranh ở một số quốc gia sẽ xem xét liệu rằng giao dịch đó có ngăn cản, cản trở cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường hay không[14]. Theo đó, cơ quan quản lý phải sử dụng các công cụ phân tích kinh tế để xác định thế nào là cản trở ‘một cách đáng kể’. Để dự đoán tác động của hành vi tập trung kinh tế trong tương lai, cơ quan quản lý cạnh tranh Hoa Kỳ áp dụng các phân tích kinh tế vĩ mô trong từng vụ việc tập trung kinh tế[15]. Ví dụ, các công cụ thực nghiệm (natural experiments) cho phép cơ quan này dự đoán tác động của một hành vi bằng cách so sánh với các trường hợp tập trung kinh tế có các tình tiết tương tự trong quá khứ[16]. Cơ quan có thẩm quyền Trung Quốc cũng xem xét các khía cạnh kinh tế liên quan như mức độ tâp trung kinh tế của thị trường, tác động của tập trung kinh tế lên người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác[17].

Tuy nhiên, với tính chất là một chuyên ngành khoa học pháp lý, pháp luật cạnh tranh chú trọng vào việc sử dụng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Bởi vậy, kinh tế học chỉ nên được xem là yếu tố bổ trợ và việc lạm dụng kinh tế học trong một số trường hợp còn có thể gây ra sự bối rối cho cơ quan thực thi thay vì nâng cao hiệu quả trong việc nắm bắt vấn đề và thực thi pháp luật[18].

Bên cạnh đó, cũng cần phải lưu ý rằng không phải tất cả kiến thức kinh tế học đều được sử dụng trong lĩnh vực luật cạnh tranh. Về cơ bản, luật cạnh tranh đỏi hỏi kiến thức về kinh tế học vi mô (microeconomics) – nghiên cứu về cung, cầu trên thị trường - và tổ chức công nghiệp (industrial organization)[19] – nghiên cứu về sự hình thành, sử dụng, duy trì và tác động của sức mạnh thị trường của doanh nghiệp[20].

Nghiên cứu về cung, cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến cung cầu là kiến thức cơ bản để nghiên cứu Luật cạnh tranh bởi đối tượng điều chỉnh của luật này là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng xấu tới cạnh tranh trên thị trường[21]. Theo đó, nhu cầu của khách hàng và năng lực sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp đối thủ trên cùng thị trường là cơ sở để doanh nghiệp xác định mục tiêu và xây dựng chiến lược kinh doanh. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng Luật cạnh tranh yêu cầu kiến thức về những yếu tố then chốt tác động tới quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Không chỉ vậy, kinh tế học vi mô còn là công cụ giúp nhà nghiên cứu hiểu được tác động của các yếu tố tới nguồn cung và nhu cầu trong một thị trường cụ thể, từ đó nắm bắt được tác động của hành vi kinh doanh tới thị trường. Ví dụ, viêc nâng giá sản phẩm so với các sản phẩm tương tự trên thị trường của một doanh nghiệp có thể dẫn tới sự thua lỗ của doanh nghiệp đó bởi khách hàng sẽ chuyển sang mua sản phẩm tương tự của các doanh nghiệp khác với giá bán thấp hơn. Do đó, hành vi nâng giá sản phẩm cao hơn chi phí sản xuất của một doanh nghiệp đơn lẻ thường không cản trở cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu tất cả các doanh nghiệp trên thị trường thoả thuận với nhau cùng tăng giá của sản phẩm, hành vi này lại có thể vi phạm luật cạnh tranh bởi sự thoả thuận triệt tiêu sự cạnh tranh về giá của các doanh nghiệp trên thị trường. Cùng với đó, người tiêu dùng sẽ phải mua sản phẩm với mức giá cao hơn hẳn mà không phải do chi phí sản xuất tăng lên. Như vậy, việc ứng dụng kiến thức kinh tế học vi mô sẽ giúp các nhà quản lý, nhà nghiên cứu hiểu được bản chất và tác động kinh tế của các hành vi kinh tế, từ đó xây dựng biện pháp can thiệp kịp thời và phù hợp.

Đồng thời, nhà nghiên cứu, nhà quản lý cũng cần có kiến thức về tổ chức công nghiệp, hay nói cách khác là nghiên cứu các đặc điểm đặc thù của các thị trường cũng có vai trò quan trọng. Bên cạnh hiểu biết về nhu cầu của khách hàng và năng lực của đối thủ, quyết định kinh doanh của doanh nghiệp còn chịu sự tác động của các yếu tố đặc trưng của thị trường. Ví dụ, các quyết định nghiên cứu nhằm phát triển sản phẩm mới của doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc chữa bệnh cho người phải tuân thủ quy định pháp luật liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng các sản phẩm y tế do Nhà nước ban hành. Hoặc doanh nghiệp trong lĩnh vực viễn thông có thể không ngại ngần tăng giá dịch vụ khi biết rằng số lượng đối thủ trong lĩnh vực này bị hạn chế bởi số vốn đầu tư ban đầu rất lớn. Do vậy, người tiêu dùng sẽ không có nhiều sự lựa chọn nếu sản phẩm của các nhà cung cấp dịch vụ khác không tốt bằng. Do đó, việc nghiên cứu tổ chức công nghiệp sẽ mang lại kiến thức đầy đủ hơn về mục đích và tác động của các quyết định kinh doanh của các doanh nghiệp.

Tóm lại, vai trò của tư duy kinh tế trong việc nghiên cứu, xây dựng và áp dụng Luật cạnh tranh đã được thừa nhận và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới. Các nhà làm luật Việt Nam trong quá trình soạn thảo Luật Cạnh tranh năm 2018 thay thế Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng đã nhìn nhận được tầm quan trọng của việc kết hợp tư duy kinh tế và tư duy pháp lý[22]. Nội dung tiếp theo minh hoạ một số quy định của văn bản mới về nội dung này.

2.2.            Góc độ kinh tế trong pháp luật Cạnh tranh Việt Nam

Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, trong phần mục tiêu dây dựng Luật Cạnh tranh mới, Chính phủ đã xác định “các quy định điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh của Luật Cạnh tranh (sửa đổi) phải được xây dựng nhằm mục tiêu đảm bảo tính hợp lý về mặt kinh tế, theo đó phát huy được các tác động tích cực, hạn chế giảm thiểu các tác động phản cạnh tranh của các hành vi kinh doanh trên thị trường. Để đạt được mục tiêu này, cần kết hợp chặt chẽ giữa tư duy kinh tế và tư duy pháp lý trong suốt quá trình xây dựng Luật Cạnh tranh (sửa đổi)“[23]. Với mục tiêu đó, các quy định của Luật cạnh tranh năm 2018 thể hiện rõ yêu cầu xem xét các tác động kinh tế của hành vi của Uỷ ban Cạnh tranh quốc gia. Ví dụ, trong nhóm quy định về hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, việc xác định tác động của hành vi này đã được mở rộng, từ chỉ dựa vào tiêu chí thị phần dựa trên cơ sở bản chất, tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh của hành vi[24]. Cùng với đó, Luật Cạnh tranh mới cũng đã nâng quy định về việc xác định sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp từ Nghị định lên thành Luật[25].

Nhóm quy định thể hiện rõ nhất sự kết hợp của tư duy kinh tế và tư duy pháp lý liên quan đến tập trung kinh tế. Ngay sau khi Luật mới có hiệu lực, tỷ lệ các doanh nghiệp trước khi tập trung kinh tế phải thông báo với Uỷ ban Cạnh tranh quốc gia khi đạt đến ngưỡng thông báo tập trung kinh tế sẽ tăng nhanh một cách đáng kể. Lý do là bởi ngưỡng thông báo trong Luật mới không chỉ là thị phần kết hợp như trước đây mà bao gồm nhiều tiêu chí khác như giá trị giao dịch, doanh thu các các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế. Việc xác định tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam cũng không chỉ dựa vào thị phần kết hợp như trước đây mà đòi hỏi cơ quan quản lý cạnh tranh phải xem xét nhiều yếu tố như mức độ tập trung trên thị trường liên quan trước và sau khi tập trung kinh tế hay khả năng doanh nghiệp sau tập trung kinh tế tăng giá hoặc tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu một cách đáng kể. Sự bổ sung các tiêu chí đánh giá mức độ tác động cạnh tranh của các hành vi đảm bảo cho việc đánh giá và điều chỉnh các hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp một cách hiệu quả hơn. Tuy nhiên, đây cũng là thách thức cho Uỷ ban cạnh tranh Việt Nam về việc chuẩn bị đội ngũ nhân sự có sự hiểu biết về pháp lý và kinh tế. Sự thay đổi này cũng đặt ra yêu cầu về sự thay đổi chương trình đào tạo Luật Cạnh tranh của các cơ sở đào tạo Luật ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là chương trình giảng dạy tập trung vào Luật Cạnh tranh năm 2004 với sự hạn chế đáng kể trong kết hợp tư duy kinh tế vào tư duy pháp lý.

Phần tiếp theo của bài viết chứng minh cho nhận định của tác giả rằng chương trình giảng dạy Luật Cạnh tranh ở một số cơ sở giáo dục cần phải đổi mới để đáp ứng sự thay đổi trong việc xây dựng và áp dụng Luật Cạnh tranh hiện nay. Trong phạm vi bài viết, tác giả tiếp cận và phân tích chủ yếu thông qua giáo trình được viết bởi các nhà nghiên cứu[26] và cấu trúc/đề cương môn học tại một số cơ sở đào tạo Luật[27]. Tuy nhiên, hạn chế của cách tiếp cận này chính là giáo trình chỉ là một nguồn học liệu cơ bản và không phản ánh được chương trình dạy thực tế tại các cơ sở đào tạo. Do đó, tác giả có sử dụng thêm kinh nghiệm thực tế với tư cách là một người đã theo học học phần Luật Cạnh tranh tại trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012 và tham gia đào tạo học phần Luật Cạnh tranh tại Khoa Luật, trường Đại học Vinh từ năm 2014.

2.3.            Chương trình giảng dạy Luật Cạnh tranh hiện nay ở một số trường Đại học ở Việt Nam

Khác với một số quốc gia[28], Luật cạnh tranh Việt Nam điều chỉnh hai nhóm hành vi có tác động tiêu cực tới cạnh tranh trên thị trường là Hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh[29]. Theo nghĩa rộng, pháp luật Cạnh tranh bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của các chủ thể có tác động tới cạnh tranh trên thị trường; quá trình áp dụng pháp luật cạnh tranh của các doanh nghiệp. Theo đó, pháp luật cạnh tranh gồm pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật kiểm soát hạn chế cạnh tranh, những quy định điều chỉnh hoạt động tố tụng cạnhtranh và tất cả các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trong các văn bản pháp luật có liên quan[30]. Theo đó, chương trình giảng dạy sẽ bao gồm các vấn đề lý luận về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh; các nội dung pháp luật cụ thể nêu trên theo quy định của pháp luật cạnh tranh hiện hành ở Việt Nam: Pháp luật kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh, Pháp luật về chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Pháp luật về tố tụng cạnh tranh và các điều khoản thực thi. Riêng trong pháp luật kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh, người học sẽ tìm hiểu lần lượt ba nhóm hành vi chính gồm Thoả thuận hạn chế cạnh tranh; lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền; tập trung kinh tế[31].

Tuỳ thuộc vào cách xây dựng bài của người dạy, người học được yêu cầu nắm bắt nội dung của các hành vi vi phạm theo cấu trúc được xây dựng trong Luật Cạnh tranh. Cho đến thời điểm trước năm 2018, chương trình giảng dạy Luật Cạnh tranh chủ yếu tập trung vào Luật cạnh tranh ban hành năm 2004.

Với cách tiếp cận như vậy, phần lớn nội dung của các Giáo trình của các trường Đại học chủ yếu xây dựng dựa vào Luật Cạnh tranh Việt Nam. Người học sẽ được giới thiệu về hành vi và các quy định của pháp luật điều chỉnh hành vi đó. Liên quan đến nội dung của các hành vi, giáo trình và chương trình dạy cũng chỉ trình bày về nội dung của hành vi mà chưa giải đáp vì sao hành vi đó làm cản trở cạnh tranh trên thị trường và cần có sự can thiệp từ Nhà nước. Liên quan đến các quy định về các tiêu chí đánh giá mức độ hạn chế cạnh tranh của các hành vi hạn chế cạnh tranh, Luật Cạnh tranh năm 2004 chủ yếu dựa vào thị phần để xác định tác động hạn chế cạnh tranh của các hành vi của doanh nghiệp. Cách tiếp cận này quá đơn giản, có thể gọi là ‘thô sơ’, bởi vậy, việc đề cập tới các công cụ kinh tế và lý thuyết kinh tế học được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia khác trên thế giới cho sinh viên không mang nhiều ý nghĩa.

Ngoài ra, Luật Cạnh tranh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn chỉ ghi nhận các quy định chung, gây khó khăn trong việc áp dụng vào vụ việc thực tế[32]. Bởi vậy, sự hạn chế về số lượng và nội dung quyết định giải quyết vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam phần nào giải thích cho sự giới hạn về việc học và hiểu Luật Cạnh tranh nói chung, góc độ kinh tế nói riêng.

Cũng cần lưu ý rằng trong khung chương trình đào tạo Luật của một số trường Đại học, sinh viên được học học phần Kinh tế vi mô dưới hình thức môn học tự chọn hoặc bắt buộc[33]. Tuy nhiên, như đã lập luận trên mục 2.1, kiến thức môn học Kinh tế vi mô là chưa đáp ứng đủ lượng kiến thức kinh tế học trong học phần Luật Cạnh tranh bởi ngành luật này đỏi hỏi người học phải có hiểu biết về tổ chức công nghiệp. Như vậy, xuất phát từ vai trò của tư duy kinh tế đối với việc nghiên cứu, xây dựng và áp dụng Luật Cạnh tranh và những hạn chế trong chương trình giảng dạy học phần này hiện nay tại một số cơ sở đào tạo luật, việc sửa đổi, bổ sung và cập nhật học liệu và chương trình giảng dạy là vô cùng cần thiết. Phần tiếp theo giới thiệu cách tiếp cận của trường Luật Melbourne, trường Đại học Melbounre (sau đây gọi là ‘Luật Cạnh tranh trường Luật Melbourne’) trong việc giảng dạy Luật Cạnh tranh cho chương trình đào tạo nghề luật Juris Doctor. Mặc dù chương trình đào tạo này và chương trình đào tạo hệ cử nhân ngành luật không giống nhau, việc giới thiệu nội dung giảng dạy và học môn Luật Cạnh tranh của trường Luật Melbourne nhằm minh hoạ việc kết hợp các khái niệm kinh tế bên cạnh các nội dung pháp lý. Do vậy, sự khác biệt về hệ thống pháp luật và yêu cầu đối với người học trong hai chương trình không làm ảnh hưởng tới mục tiêu nghiên cứu.

3.                  Nội dung kinh tế học trong học phần Luật Cạnh tranh tại trường Luật Melbounre, Đại học Melbounre, Úc

Môn học Luật Cạnh tranh tại trường Luật Melbourne nghiên cứu về nhóm pháp luật điều chỉnh sự vận hành của thị trường nhằm duy trì và cải thiện tính cạnh tranh trên các thị trường tại Úc. Theo đó, môn học này tập trung nghiên cứu về các hành vi chịu sự điều chỉnh của Luật Cạnh tranh và người tiêu dùng liên bang Úc năm 2010 (Luật Cạnh tranh Úc) và các quy định về thực thi pháp luật. Như giới thiệu trong đề cương môn học, pháp luật Cạnh tranh Úc, gồm án lệ và văn bản pháp luật, là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế vi mô và chịu sự tác động của các lý thuyết kinh tế và mục tiêu kinh tế. Do đó, một trong những mục tiêu quan trọng của môn học này là giới thiệu cho người học về môn khoa học có sử dụng các lý thuyết kinh tế và lý thuyết pháp lý. Từ đó, người học cũng có cơ hội sử dụng cách tiếp cận mới trong việc nghiên cứu việc áp dụng pháp luật trên thực tế trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Kiến thức kinh tế sử dụng trong ngành luật cạnh tranh được cung cấp qua việc nghiên cứu các học liệụ và sinh viên không cần phải có kiến thức về kinh tế trước khi học[34].

Ngoài các mục tiêu liên quan tới kỹ năng và kiến thức pháp lý, người học được kỳ vọng sẽ hiểu được các nội dung liên quan tới mục tiêu môn học về tư duy kinh tế. Các mục tiêu này bao gồm: Hiểu về sự tác động của các mục tiêu kinh tế trong việc ban hành các văn bản pháp luật nhằm kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh;  Sự liên quan giữa các khái niệm kinh tế và lý thuyết kinh tế trong việc điều chỉnh thị trường; Vai trò của các chứng cứ kinh tế trong việc áp dụng và giải quyết vụ việc cạnh tranh bằng Luật Cạnh tranh Úc.

Luật Cạnh tranh là môn học tự chọn trong khung chương trình đào tạo Juris Doctor tại trường Luật Melbourne. Theo đó, môn học được giảng dạy trong thời gian một học kỳ với thời gian lên lớp trong vòng 12 tuần, mỗi tuần 3 tiếng[35].

Như vậy, chương trình Luật Cạnh tranh tại trường Luật Melbourne lồng ghép kiến thức kinh tế học cùng với kiến thức pháp lý. Kiến thức kinh tế học trong ngành luật Cạnh tranh được giới thiệu cho sinh viên trong thời gian một kỳ học. Đối chiếu về thời gian lên lớp, môn học Luật Cạnh tranh tại các trường Đại học ở Việt Nam khá tương đồng với yêu cầu của trường Luật Melbourne[36]. Như vậy, việc bổ sung và giảng dạy kiến thức kinh tế học trong môn học Luật Cạnh tranh với thời gian biểu được tổ chức như hiện nay là phù hợp và mang tính khả thi cao.

Luật Cạnh tranh năm 2018 sẽ có hiệu lực từ tháng 7 năm 2019, việc nghiên cứu và sửa đổi chương trình giảng dạy cần được thực hiện sớm nhằm trang bị cho sinh viên đầy đủ kiến thức về môn học và nâng cao cơ hội hành nghề trong lĩnh vực luật cạnh tranh. Phần 4 sẽ đưa ra một số gợi ý để đạt được mục tiêu trên.

4.      Một số giải pháp nhằm giảng dạy Kinh tế học trong học phần Luật Cạnh tranh

Tham khảo, học tập kinh nghiệm tại các cơ sở đào tạo lồng ghép kiến thức kinh tế vào học phần Luật Cạnh tranh

Việc xây dựng và bổ sung đề cương môn học sẽ được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả hơn nhờ việc học tập kinh nghiệm tại các cơ sở đào tạo đi trước. Việc học tập kinh nghiệm có thể được thực hiện thông qua việc tham gia và tổ chức hội thảo liên quan đến chương trình giảng dạy học phần Luật Cạnh tranh trong thời gian tới. Các Hội thảo và trao đổi có thể tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong Ban soạn thảo Luật Cạnh tranh mới để hiểu và nắm bắt được mức độ áp dụng tư duy kinh tế trong Luật mới.

Biên soạn giáo trình Luật Cạnh tranh mới

Mặc dù giáo trình chỉ là một học liệu trong việc dạy và học một môn học trong chương trình Đại học, giáo trình được viết bởi các nhà khoa học trong chuyên ngành Luật cạnh tranh vẫn được xem là một tài liệu quan trọng cung cấp kiến thức cơ bản cho sinh viên trong quá trình tự học. Do đó, việc biên soạn giáo trình mới là một giải pháp cần thiết, khi các giáo trình hiện nay đều không còn phù hợp với quan điểm xây dựng Luật Cạnh tranh mới. Không chỉ thay đổi các điều khoản, Luật Cạnh tranh còn áp dụng các lý thuyết kinh tế mới cũng như các công cụ phân tích kinh tế mới so với Luật cũ, do đó, việc sử dụng giáo trình cũ sẽ không có nhiêug giá trị. Đồng thời, quá trình biên soạn giáo trình mới còn là quá trình cập nhật và hệ thống lại kiến thức về kinh tế học của các nhà khoa học và giảng viên trong lĩnh vực này. Về nội dung kinh tế học của giáo trình, tác giả cho rằng các nhà khoa học có thể tiếp cận từ cách hiểu của một số quốc gia có lịch sử phát triển Luật Cạnh tranh lâu đời như Hoa Kỳ, hiệu quả thực thi pháp luật cao như EU và các quốc gia có hệ thống pháp lý tương đồng với Việt Nam như Trung Quốc. Sinh viên cũng nên được giới thiệu về các lý thuyết và công cụ kinh tế thường được sử dụng để đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên, các công cụ cụ thể được  Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia lựa chọn và áp dụng có thể được đề cập sau một thời gian nhất định khi Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn Luật mới và có các vụ việc cạnh tranh được xử lý trên thực tế.

Hợp tác với giảng viên chuyên ngành Kinh tế

Việc biên soạn và giảng dạy học phần Luật Cạnh tranh cùng với kiến thức kinh tế học không đơn thuần là việc giới thiệu kiến thức kinh tế cùng với kiến thức luật học. Như đã phân tích, không phải mọi kiến thức kinh tế học đều được sử dụng trong luật cạnh tranh, bởi vậy, việc giảng dạy Luật Cạnh tranh vẫn cần được phụ trách bởi giảng viên chuyên ngành Luật. Tuy nhiên, việc hợp tác với giảng viên chuyên ngành Kinh tế học vi mô và tổ chức công nghiệp sẽ hỗ trợ cho giảng viên chuyên ngành Luật trong việc cung cấp các học liệu toàn diện và đầy đủ. Không chỉ vậy, trên thực tế, xuất phát từ chương trình đào tạo Luật từ trước tới nay, không nhiều giảng viên chuyên ngành Luật có kiến thức kinh tế. Việc hợp tác sẽ giúp các giảng viên có cơ hội nâng cao kiến thức, từ đó hỗ trợ người học trong việc tiếp cận hai chuyên ngành trong học phần Luật Cạnh tranh. Hơn nữa, cùng với việc tư duy kinh tế được áp dụng nhiều trong Luật Cạnh tranh mới, các nhà kinh tế học sẽ có nhiều cơ hội hợp tác với các chuyên gia pháp lý trong việc áp dụng pháp luật, vì vậy, việc hợp tác với các giảng viên chuyên ngành Luật là một hoạt động cần thiết cho các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế vi mô và tổ chức công nghiệp.

Việc kết hợp giảng dạy giữa giảng viên chuyên ngành luật và chuyên ngành kinh tế đã được thực hiện trên thực tế[37]. Tuy nhiên, hàm lượng kinh tế trong chương trình đào tạo môn học ở cơ sở đào tạo có sử dụng mô hình kết hợp đào tạo của hai chuyên ngành này vẫn không thể đáp ứng yêu cầu hiện tại. Như đã đề cập ở mục 2, sự hạn chế trong nội dung đào tạo bị ảnh hưởng bởi sự giới hạn về tư duy kinh tế trong quy định pháp luật hiện hành. Do vậy, sự hợp tác giữa các giáo viên trong hai chuyên ngành cần được nâng cao hơn và chú trọng hơn về kiến thức kinh tế, cụ thể là kinh tế học vi mô và tổ chức công nghiệp. Tương tự tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành kinh tế, việc giảng dạy học phần Luật Cạnh tranh cũng cần nhấn mạnh thêm vào kiến thức kinh tế học dành riêng cho học phần này[38].

Việc bổ sung, xây dựng chương trình đào tạo mới của một môn học được thực hiện hàng năm tại các cơ sở đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của người tuyển dụng lao động và các doanh nghiệp. Do đó, việc điều chỉnh chương trình giảng dạy học phần Luật Cạnh tranh có thể được thực hiện theo lộ trình tại từng cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, để đảm bảo sự cập nhật và toàn diện của môn học Luật Cạnh tranh theo yêu cầu hiện nay, các nhà khoa học và giảng viên tại các cơ sở đào tạo có thể lưu ý sử dụng các giải pháp được đề xuất ở trên.

5.      Kết luận

Luật Cạnh tranh ra đời nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp trên thị trường, bởi vậy, việc nghiên cứu, xây dựng và áp dụng ngành luật này đòi hỏi sự hiểu biết về kiến thức kinh tế học của các chuyên viên trong cơ quan quản lý cạnh tranh và người hành nghề luật. Nhu cầu này đặt ra yêu cầu phải đổi mới chương trình đào tạo học phần Luật Cạnh tranh tại một số cơ sở đào tạo, vốn dựa trên các quy định của Luật Cạnh tranh cũ với hàm lượng kinh tế ít ỏi từ cách đây gần 15 năm. Để đạt được mục tiêu đó, bài viết đưa ra ba giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giảng dạy và áp dụng Luật Cạnh tranh mới trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

Trong các công trình tiếp theo, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu và phát triển đề tài dựa vào thực tế áp dụng pháp luật của Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia sau khi Luật Cạnh tranh năm 2018 có hiệu lực. Như đã phân tích, việc giới thiệu và phân tích các công cụ kinh tế và tư duy kinh tế không được đề cập và sử dụng trong quy định pháp luật hiện hành sẽ không có giá trị thực tiễn. Với mong muốn đó, chương trình mới sẽ tập trung vào các công cụ kinh tế và cách thức lập luận được sử dụng bởi cơ quan cạnh tranh nhằm mang lại hiệu quả ứng dụng cao nhất cho sinh viên có nguyện vọng thực hành nghề luật trong lĩnh vực cạnh tranh sau khi ra trường.


[1] Michael J. Trebilcock, Competition Policy and Trade Policy, Mediating the Interface; Journal of World Trade,  (1996), tr 72

[2] Richard A Posner, ‘The Economic Approach to Law’ in Economic analysis of law (Wolters Kluwer Law & Business, Ninth edition, 2014) 29, 29.

[3] Tlđd.

[4] Tlđd chú thích số 1, tr 2.

[5] Tlđd.

[6] Tlđd.

[7] WTO, ‘The Fundamental Principles of Competition Policy’ (1999) 5–6.

[8] Niels, Jenkins and Kavannagh, above n 3, 3.

[9] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Cạnh tranh; Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2016

[10] Eleanor M Fox; What is harm to competition? Exclusionary practices and anticompetitive effect; 2002, Antitrust Law Journal, tập 70, tr 376-377.

[11] Deborah Platt Majoras (Vụ Chống độc quyền, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ), Bàn về Quyết định cấm giao dịch tập trung kinh tế của công ty General ElectricHoneywell của Uỷ ban cạnh tranh Châu Âu số  COMP/M.2220, 29/11/2001 https://www.justice.gov/atr/speech/ge-honeywell-us-decision.

[12] Tlđd chú thích số 11, tr 404-405

[13] Niels, Jenkins and Kavannagh, above n 3, 4.

[14] Section 7 Luật Chống độc quyền của Hoa Kỳ; Điều 2 Quy định hướng dẫn về kiểm soát tập trung kinh tế số 139/2004 ngày 20 tháng 1 năm 2004 của Uỷ ban Châu Âu; Điều 30 Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018

[15] ABA Section of Antitrust Law, ‘Role of Economists before the Agencies and in Court’ in The Merger Review Process: A Step-by-Step Guide to US and Foreign Merger Review (4th ed, 2012) 483, 485.

[16] Tlđd chú thích 15, tr 485.

[17] Điều 27 Luật Chống độc quyền của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi là AML)

[18] Derek C. Bok, Section 7 of the Clayton Act and the Merging of Law and Economics, Harvard Law Review, Tập 74, số 2 (tháng 12 năm 1960), tr349

[19] Niels, Jenkins and Kavannagh, above n 3, 5.

[20] Jeffrey R Church, Roger Ware, Trường Đại học Calgary, Industrial Organization: A strategic Approach; 2000, tr 7-10

[21] Richard Whish and David Bailey, ‘Competition policy and economics’ in Oxford Competition Law; Nxb Trường Đại học Oxford (Tái bản lần thứ 8) 2015.

[22] Chính phủ, Tờ trình về dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi) số 377/TTr-CP ngày 06/9/2017, tr8

[23] Tlđd chú thích số 21, tr 9

[24] Điều 13 Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 (sau đây gọi là Luật Cạnh tranh)

[25] Điều 22 Nghị định 116/2005/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh; Điều 26 Luật Cạnh tranh

 

[26] Giáo trình Luật Cạnh tranh của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế - Luật Thành phố Hồ Chí Minh và Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội và Trường Đại học Vinh

[27] Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật - Trường Đại học Vinh

[28] Luật Cạnh tranh và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Úc năm 2010, pháp luật cạnh tranh của Mỹ, Luật chống độc quyền Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chỉ điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh.

[29] Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018.

[30] TS Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr 38.

[31] Tham khảo Giáo trình Luật Cạnh tranh của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2016, Giáo trình Luật cạnh tranh của trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010; Giáo trình Luật Cạnh tranh năm 2009 của NXB Giáo dục do TS Tăng Văn Nghĩa chủ biên.

[32] Chính phủ, Tờ trình về dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi) số 377/TTr-CP ngày 06/9/2017, tr5

[33] Tham khảo khung chương trình đào tạo Luật và Luật Kinh tế của Khoa Luật, trường Đại học Vinh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội.

[34] Xem Phụ lục 2, mục 1 - Giới thiệu môn học và mục 2 – Mục tiêu môn học

[35] Thời gian biểu môn học https://sws.unimelb.edu.au/2018/Reports/List.aspx?objects=LAWS50063&weeks=1-52&days=1-7&periods=1-56&template=module_by_group_list

[36] Các cơ sở giáo dục như Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật trường Đại học Vinh xây dựng học luật Luật Cạnh tranh với 03 đơn vị tín chỉ, tương đương với 45 tiết giảng cho học kỳ gồm 15 tuần học  (45 phút hoặc 50 phút mỗi tiết giảng).

[37] Tham khảo đề cương Môn Luật Cạnh tranh tại trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh.

[38] Ví dụ tại Khoa Luật-Trường Đại học Ngoại Thương, Khoa Luật-Học viên Ngân hàng, Khoa Luật -Trường Kinh tế Quốc dân, Chuyên ngành Kinh tế-Luật Học viện Tài Chính.

---------------

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A Sách, tạp chí, báo cáo

1.        ABA Section of Antitrust Law, ‘Role of Economists before the Agencies and in Court’ in The Merger Review Process: A Step-by-Step Guide to US and Foreign Merger Review (4th ed, 2012) 483

2.        Niels, Gunnar, Helen Jenkins and James Kavannagh, ‘Introduction: Starting from First Principles’ in Economics for Competition Lawyers (Nxb Oxford University Press, 2011) 1

3.        Posner, Richard A, ‘The Economic Approach to Law’ in Economic analysis of law (Wolters Kluwer Law & Business, Tái bản lần thứ 9, 2014) 29

4.        WTO, ‘The Fundamental Principles of Competition Policy’ (1999)

5.        Jeffrey R Church, Roger Ware, Trường Đại học Calgary, Industrial Organization: A strategic Approach; 2000

6.        Eleanor M Fox; What is harm to competition? Exclusionary practices and anticompetitive effect; 2002, Antitrust Law Journal, tập 70

7.        Deborah Platt Majoras (Vụ Chống độc quyền, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ), Bàn về Quyết định cấm giao dịch tập trung kinh tế của công ty General ElectricHoneywell của Uỷ ban cạnh tranh Châu Âu số COMP/M.2220, ngày 29/11/2001

8.        Richard Whish and David Bailey, ‘Competition policy and economics’ in Oxford Competition Law; Nxb Trường Đại học Oxford (Tái bản lần thứ 8) 2015

9.        Michael J. Trebilcock, Competition Policy and Trade Policy, Mediating the Interface; Journal of World Trade,  (1996)

10.    Derek C. Bok, Section 7 of the Clayton Act and the Merging of Law and Economics, Harvard Law Review, Tập 74, số 2 (tháng 12 năm 1960),

11.    Tờ trình Chính phủ về dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi) số 377/TTr-CP ngày 06/9/2017

B Văn bản luật

12. Nghị định 116/2005/NĐ-CP Hướng dẫn chi tiết Luật Cạnh tranh năm 2004

13. Luật Cạnh tranh Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 2007

14. Luật chống độc quyền Hoa Kỳ 1890

15. Đạo luật Clayton Hoa Kỳ

16. Quy định hướng dẫn về kiểm soát tập trung kinh tế số 139/2004 ngày 20 tháng 1 năm 2004 của Uỷ ban Châu Âu

17. Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004, năm 2018

 

C Tài liệu khác

18. Giáo trình Luật Cạnh tranh của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2016

19. Giáo trình Luật cạnh tranh của trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010

20. Giáo trình Luật Cạnh tranh của NXB Giáo dục do TS Tăng Văn Nghĩa chủ biên

21. Khung chương trình đào tạo Luật và Luật Kinh tế của Khoa Luật, trường Đại học Vinh, Trường Đại học Luật Hà Nội; Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

22. Đề cương môn học Luật Cạnh tranh chương trình Juris Doctor của trường Luật Melbourne.