Hoạt động nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với các trường đại học. Tác giả Văn Như Cương trong một báo cáo tham luận về “Giá trị thực của nghiên cứu khoa học” nhận định rằng khuyến khích các trường ĐH nghiên cứu khoa học là đúng đắn, không nghiên cứu khoa học thì chất lượng đào tạo không thể cao, thầy phải nghiên cứu khoa học và đồng thời phải hướng dẫn sinh viên biết nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học ứng dụng. Trong suốt quá trình đào tạo của mình, trường Đại học Vinh luôn đề cao vai trò, tầm quan trọng của hoạt động NCKH và đặt ra nhiệm vụ cho các hoạt động NCKH của giảng viên và sinh viên trong trường, các hoạt động NCKH luôn được đẩy mạnh về số lượng và chất lượng đã làm nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác dạy và học. Trong định hướng chung của nhà trường, khoa Luật – đại học Vinh cũng xem hoạt động NCKH luôn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu cho sự phát triển của khoa, các đề tài của giảng viên và sinh viên của khoa Luật luôn được đánh giá cao về tính mới, tính thực tiễn, tính sáng tạo.

   Nhằm nâng cao hơn nữa số lượng và chất lượng của hoạt động NCKH, đảm bảo sự đồng đều trong các đề tài NCKH, đồng thời thúc đẩy hơn nữa hoạt động NCKH của giảng viên và sinh viên, sau đây chúng tôi đưa ra một số kinh nghiệm thực hiện một đề tài NCKH


    Nghiên cứu khoa học là hoạt động đi tìm cái mới (find out some new problems/matters). Cái mới ở đây không chỉ thể hiện trên kết quả nghiên cứu mà còn ở phương pháp khoa học và khả năng ứng dụng phương pháp mới để giải quyết một vấn đề. Vậy, một câu hỏi đặt ra là: thế nào là một công trình nghiên cứu và đã là một công trình thì cần tuân thủ những nguyên tắc nào, cần chuẩn bị, triển khai theo tuần tự căn bản nào để có được kết quả tốt.

    Ở bài viết này đề cập đến 3 giai đoạn chính cho việc thực hiện một đề tài NCKH

Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị

Giai đoạn 2: Viết và hoàn thiện công trình

Giai đoan 3: Trình bày, báo cáo công trình

1. GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ

Để tiến hành nghiên cứu khoa học phải chuẩn bị đầy đủ các mặt cho nghiên cứu. Bước chuẩn bị có một vị trí đặc biệt, nó góp phần quyết định chất lượng của công trình nghiên cứu. Chuẩn bị nghiên cứu bắt đầu từ xác định đề tài và kết thúc ở việc chuẩn bị lập kế hoạch tiến hành nghiên cứu.

1.1.  Về lựa chọn đề tài nghiên cứu và xác định tên đề tài nghiên cứu

* Về lựa chọn đề tài nghiên cứu

    Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của người nghiên cứu khoa học là lựa chọn đề tài.Việc xác định đề tài là một vấn đề không đơn giản mà người nghiên cứu, trên cơ sở chuyên môn sâu, cùng với quá trình đọc tài liệu, đi thực tiễn có thể chọn lựa và đề xuất một nghiên cứu cụ thể. Các đề tài thường được lựa chọn qua kinh nghiệm và kiến thức tích luỹ được, đặt trong bối cảnh yêu cầu về mặt chuyên môn, quản lí hoặc nhu cầu thực tế của xã hội. 

* Thế nào là một đề tài nghiên cứu được đánh giá tốt?

    Một đề tài nghiên cứu thông thường được đánh giá tốt cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:

  - Có phạm vi giới hạn: phạm vi càng hẹp thì vấn đề nghiên cứu càng được đào sâu, còn phạm vi rộng thì dễ dẫn đến nguy cơ dàn trải, thiếu tập trung, xử lí các vấn đề chỉ ở trên bề mặt.

   - Đề tài phải có tính cấp thiết đối với thời điểm tiến hành nghiên cứu. Vấn đề đang là điểm nóng bỏng về giáo dục nghề nghiệp cần phải giải quyết và giải quyết được nó sẽ đem lại giá trị thiết thực cho lý luận và thực tiễn, đóng góp cho sự phát triển của khoa học và đời sống.

- Có tính mới mẻ và độc đáo: kết quả nghiên cứu phải mang lại một phát hiện mới, một nét riêng và sự tiến bộ nhất định trong tri thức khoa học, không trùng lặp với những kết quả, công trình đã công bố trước đó.

* Về đặt tên đề tài

    Đây cũng là vấn đề khó, thường gây ra những tranh luận trong quá trình xét duyệt và thông qua. Tên đề tài, ít nhất cũng phải đảm bảo được hai yêu cầu sau đây:

Thứ nhất, do nội dung nghiên cứu của một đề tài khoa học được phản ánh một cách cô đọng nhất trong tiêu đề của nó, cho nên tên đề tài cần có tính đơn nghĩa, khúc chiết, rõ ràng, không dẫn đến những sự hiểu lầm, hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau hay hiểu mập mờ.

Thứ hai, tên đề tài phải thống nhất với mục đích, nhiệm vụ, phạm vi và nội dung nghiên cứu đã được xác định và trình bày trong đề tài. 

 1.2. Thu thập tài liệu và đọc tài liệu, giới hạn phạm vi, mục tiêu nghiên cứu

 1.2.1. Thu thập tài liệu thực tế

a) Tầm quan trọng

Thu thập các tài liệu lý thuyết và thực tế có tầm quan trọng to lớn, nó giúp cho người nghiên cứu chứng minh cho giả thuyết khoa học đã đưa ra.

b) Các nguồn tài liệu thực tế

Người nghiên cứu cần thu thập các thông tin qua nguồn tài liệu thực tế sau:

- Chủ trương và chính sách có liên quan đến nội dung nghiên cứu.

- Cơ sở lý thuyết có liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu.

- Thành tựu lý thuyết đã đạt được và kết quả nghiên cứu trước đã được công bố có liên quan đến chủ đề nghiên cứu.

- Các số liệu thống kê.

- Kết quả quan sát hoặc thực nghiệm do bản thân người nghiên cứu thu thập.

c) Các hình thức thu thập tài liệu

Để thu thập thông tin, người nghiên cứu thường sử dụng các hình thức: thu thập tài liệu từ các nguồn (tạp chí, báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ, số liệu thống kê, thông tin đại chúng), phỏng vấn, tiến hành quan sát, tiến hành thực nghiệm...

- Nghiên cứu các nguồn tài liệu:

+ Lập danh mục tư liệu cần theo hệ thống phân loại phù hợp để tương hợp với hệ thống thông tin tư liệu chung.

+ Lập phiếu thư mục: người nghiên cứu phải tự lập các phiếu thư mục để tiện tra cứu, trong đó ghi rõ: nguồn tư liệu, mã số của thư viện.

- Tìm hiểu thực tại:

Phát hiện thực trạng phát triển của đối tượng bằng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Các tài liệu thu thập được từ các phương pháp quan sát, điều tra, thí nghiệm, thực nghiệm qua xử lý bằng toán học thống kê cho ta những tài liệu khách quan về đối tượng.

Lưu ý: Những yêu cầu đối với tài liệu

Tài liệu thu thập phải phù hợp với yêu cầu của đề tài, làm cơ sở lý thyết cho đề tài. Tài liệu phải xác định tính chân thực, phục vụ cho chứng minh vấn đề nghiên cứu.

1.2.2. Đọc tài liệu, giới hạn phạm vi, mục tiêu nghiên cứu

    Một đề tài có thể theo ba hướng:

- Một là đối tượng nghiên cứu mới, rất ít hoặc chưa có ai làm;

- Hai là, đề tài và những vấn đề liên quan đã được quá nhiều người nghiên cứu;

- Ba là, đề tài cần đến cả tư liệu thực tiễn chưa có người đề cập và tư liệu sẵn có.

    Trong ba loại đề tài trên, loại thứ hai, tức loại đã có quá nhiều người nghiên cứu là những đề tài khó nhất. Vì để phát hiện ra những vấn đề mới trên cơ sở của những người đã có am hiểu về nó, nhất là các chuyên gia thì đây quả là một sự dũng cảm, một thử thách lớn. Do đó, dù là theo hướng đề tài nào thì đọc tài liệu thật kỹ theo nguyên tắc khách quan sẽ cho ra kết quả nghiêm túc, có đóng góp.

    Sau khi đọc tài liệu, dựa trên số lượng những nguồn tài liệu mà mình có được về hướng đề tài nghiên cứu của mình, người nghiên cứu sẽ có một cái nhìn toàn cảnh về “diện mạo” vấn đề mình sẽ nghiên cứu, từ đó xác định cho mình một phạm vi thích hợp, đồng thời co hẹp hoặc mở rộng mục tiêu nghiên cứu - cái mà theo chủ quan người nghiên cứu, đã hoặc chưa từng được chỉ ra trong các công trình trước để không rơi vào tình trạng lãng phí thời gian, công sức cho nghiên cứu sắp tới của bản thân.

1.3. Xây dựng Đề cương

    Khi tiến hành nghiên cứu một đề tài khoa học thì một thao tác rất quan trọng là phải xây dựng một đề cương nghiên cứu. Từ những công tác chuẩn bị nêu trên, chúng ta thiết kế Đề cương nghiên cứu. Đề cương phải toát ra được những công việc chính mà người nghiên cứu sẽ thực hiện, dự kiến các bước đi và nội dung của công trình và các bước tiến hành để trình cơ quan và tổ chức tài trợ phê duyệt. Các nội dung nghiên cứu phải được trình bày rõ ràng, đầy đủ trong một đề cương. Nội dung của đề cương nghiên cứu thường bao gồm các nội dung sau đây:

a. Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu  và lịch sử vấn đề nghiên cứu

b. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

c.  Các nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

d. Các phương pháp nghiên cứu

e. Dự kiến dàn ý công trình nghiên cứu

    Dàn ý nội dung công trình nghiên cứu thực chất là dự thảo nội dung, là mô hình đề tài mà người nghiên cứu định tiến hành, đòi hỏi người nghiên cứu phải thực hiện nghiêm túc. Hay nói theo cách khác, đây là cái sườn của nội dung nghiên cứu nhằm thu thập và khai thác tài liệu. Dàn ý nội dung gồm các chương, mục phù hợp với nhiệm vụ nghiên cứu. Dựa theo dàn ý, người nghiên cứu thu thập tư liệu (lý luận) và xử lý các cứ liệu thu được (qua điều tra, quan sát, thực nghiệm) để hình thành nội dung của báo cáo. Thông thường nội dung dàn ý công trình nghiên cứu có ba chương:

Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

Chương II: Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

Chương III: Với tên gọi có thể khác nhau, nhưng chủ yếu trình bày: những kết quả thực nghiệm, khẳng định giả thuyết, những bài học rút ra từ kết quả nghiên cứu, những giải pháp đề xuất để giải quyết các tồn tại của đề tài hoặc hướng dẫn thực tiễn.

    Dàn ý có tính chất tạm thời, được sửa đổi và từng bước hoàn chỉnh trong quá trình nghiên cứu. Dàn ý cần được trình bày cụ thể tới mục, các tiểu mục... Dàn ý thực hiện càng chi tiết và hợp lý thì việc thu thập tài liệu và sắp xếp dữ kiện càng dễ dàng.

1.4. Xử lý, phân bổ tài liệu, luận cứ, luận chứng

    Trong nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để thu thập dữ kiện liên quan đến đề tài nghiên cứu. Các dữ kiện thu thập chưa thể sử dụng ngay được mà phải qua quá trình sàng lọc, phân tích, xử lý. Các dữ kiện này gọi chung là tài liệu thu thập.

    Thứ nhất, Sàng lọc tài liệu. Chỉ nên bắt tay vào sàng lọc tài liệu khi có khối lượng tài liệu nhất định. Sàng lọc tài liệu gồm các công việc như sau:

- Phân loại tài liệu: Công việc này nhằm phân loại các tài liệu thu được

- Chọn lọc tài liệu, tư liệu, số liệu: nghiên cứu mối liên hệ giữa các tài liệu, tư liệu, số liệu. So sánh, đối chiếu, chọn lọc những tài liệu, tư liệu, số liệu quan trọng, thiết thực, có độ tin cậy cao.

- Sắp xếp tài liệu, tư liệu, số liệu: Sau khi quy thành các nhóm tài liệu, số liệu, tiến hành lập dàn ý, sắp xếp cụ thể từng nội dung của từng vấn đề đi theo một lôgic nhất định, chọn các vấn đề cần đi sâu phân tích.

    Thứ hai, Xử lý tài liệu. Đây là giai đoạn cơ bản, quyết định chất lượng của đề tài, vì các tư liệu, số liệu được sử lý đúng đắn, chính xác có ý nghĩa trong việc xác nhận (chứng minh) hay bác bỏ giả thuyết đã nêu ra.

    Mục đích của việc phân tích và xử lý thông tin, tư liệu là tập hợp, chọn lọc và hệ thống hoá các phần khác nhau của thông tin, của tư liệu đã có để từ đó tìm ra những khía cạnh mới, kết luận mới về đối tượng. Quá trình phân tích, xử lý thông tin, tư liệu là quá trình sử dụng kiến thức tổng hợp của người nghiên cứu, là quá trình sử dụng tư duy biện chứng và lôgic cùng với các phương pháp nghiên cứu khoa học để xem xét đối tượng. Quá trình này do trình độ của người nghiên cứu quy định. Nội dung và phương pháp xử lý thông tin bao gồm: xử lý thông tin định lượng và xử lý các thông tin định tính. Trong quá trình phân tích và xử lý thông tin cần chú ý:

- Tôn trọng tính khách quan của sự kiện, con số, người nghiên cứu không được chủ quan áp đặt theo ý đồ của mình.

- Cần phát huy tinh thần dũng cảm, mạnh dạn trong nghiên cứu khoa học, bởi vì trong quá trình phân tích, xử lý các thông tin có thể dẫn đến kết luận, những nhận xét dễ bị phê phán bác bỏ. Trong trường hợp này, người nghiên cứu cần phải thận trọng kiểm tra lại các kết luận của mình, đồng thời phải mạnh dạn phê phán các tư tưởng lạc hậu, lỗi thời và ủng hộ tích

2. GIAI ĐOẠN VIẾT VÀ HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    Sau khi khung - xương của một công trình đã được dựng, người nghiên cứu tiến hành hoàn thiện công trình. Về bản chất, đây là phần “đắp” vỏ ngôn ngữ để diễn giải bản chất thuộc đối tượng nghiên cứu mà mình cần chứng minh để thuyết phục người đọc. Viết báo cáo tổng kết đề tài phải tiến hành nhiều lần:

- Viết bản nháp theo đề cương chi tiết trên cơ sở tổng hợp các tài liệu, tư liệu, số liệu thu được và đã được sử lý.

- Sửa chữa bản thảo theo sự góp ý của người hướng dẫn và các chuyên gia.

- Viết sạch bản báo cáo tổng kết đề tài rồi đưa ra thảo luận ở bộ môn.

- Sửa chữa theo sự góp ý của bộ môn.

- Viết sạch để bảo vệ ở hội đồng bảo vệ cấp cơ sở.

- Sửa chữa lần cuối cùng sau khi tiếp thu ý kiến của hội đồng bảo vệ cấp cơ sở. Viết hoàn chỉnh văn bản báo cáo tổng kết đề tài, luận án, luận văn, đồng thời viết tóm tắt các văn bản đó.

    Một số điều cần chú ý khi viết công trình nghiên cứu

    - Hình thức rõ ràng, sạch sẽ, đúng quy chế, không sai lỗi chính tả là yếu tố hấp dẫn người đọc. Chúng ta cần nắm chắc các quy định về hình thức theo các quy định của trường Đại học Vinh như số lượng trang giới hạn, phần phụ lục tham khảo không quá một phần ba nội dung đề tài, quy cách đánh số trang font chữ và kích cỡ chữ, phần danh mục tài liệu tham khảo phải sắp xếp theo đúng quy định, nên làm danh mục tài liệu tham khảo trong quá trình thu thập tài liệu, và sắp xếp tài liệu bằng tiếng nước ngoài riêng và bằng tiếng mẹ đẻ riêng... Ngay từ khi tiến hành viết, chúng ta nên sử dụng chế độ tự động up date phần mục lục có trong Word, điều này giúp chúng ta không mất thời gian và không bỏ sót tiêu mục nào khi làm mục lục. Ngoài ra, công trình nghiên cứu phải được tuân thủ theo quy tắc soạn thảo.

    - Đề tài khoa học phải thực hiện tốt các nhiệm vụ nghiên cứu, đưa ra được các luận chứng, các kiến giải khoa học, chứng minh được giả thuyết đã nêu ban đầu. Đề tài phải được thực hiện bằng các phương pháp phong phú khác nhau, chính xác đem lại những tài liệu đáng tin cậy.

3. GIAI ĐOẠN TRÌNH BÀY, BÁO CÁO MỘT NGHIÊN CỨU

    Trình bày ở đây được hiểu là khâu công bố, báo cáo kết quả nghiên cứu cuối cùng tới đồng nghiệp và cơ quan liên quan. Hiện nay, phần lớn các nghiên cứu đều được báo cáo trên PowerPoint. Đây là một thuận lợi đối với người làm nghiên cứu.

3. 1. Việc chuẩn bị bảo vệ công trình nghiên cứu (luận văn, luận án) bao gồm

+ Phải hoàn thiện toàn bộ công trình nghiên cứu thể hiện bằng văn bản đúng với các yêu cầu về nội dung và hình thức trình bày báo cáo tổng kết đề tài, luận văn, luận án của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

+ Viết bản đề cương báo cáo tổng kết đề tài, luận văn, luận án theo tinh thần và dạng của bảng tóm tắt kết quả nghiên cứu đề tài, luận văn, luận án nhưng cô đọng và rút ngắn hơn.

+ Chuẩn bị các tài liệu minh hoạ cho báo cáo.

+ Chuẩn bị các câu trả lời căn cứ theo tinh thần các nhận xét của phản biện và của những người trong và ngoài hội đồng (hội đồng nghiệm thu hay hội đồng chấm luận văn, luận án) .

3.2. Báo cáo kết quả nghiên cứu

    Kết thúc, công trình khoa học được đem ra hội đồng khoa học nghiệm thu hoặc đem ra bảo vệ tại hội đồng chấm. Đề tài được nghiệm thu, hay bảo vệ thành công, cần được đưa vào ứng dụng trong thực tiễn giáo dục.    

    Trình bày báo cáo trước hội đồng phải ngắn gọn, đơn giản rõ ràng, dễ hiểu và đầy đủ lượng thông tin cần thiết, quan trọng, chủ yếu về: tính cấp thiết của đề tài, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng phạm vi, phương pháp nghiên cứu, những kết quả đạt được, những đóng góp mới, những kết luận, khuyến nghị và tiếp tục nghiên cứu đề tài... Khi báo cáo kết quả nghiên cứu cần lưu ý:

    + Giành thời gian cho việc làm sáng tỏ các kết quả khoa học mới vừa thu thập được bằng ngôn ngữ có tính thuyết phục để chứng minh (dẫn chứng) với sự hỗ trợ của các tài liệu minh hoạ (do người bảo vệ chọn lựa và sử dụng hợp lý).

    + Các sơ đồ, biểu bảng, tranh ảnh, mẫu vật và các phương tiện cần thiết khác phải được sắp xếp theo thứ tự tương ứng với việc trình bày vấn đề và tiện cho việc sử dụng. Đôi khi để minh hoạ, có thể sử dụng máy tính, máy chiếu hình, máy ghi âm hoặc máy chiếu phim... Song, bố trí sao cho để mọi người tham dự trong phòng hội nghị của hội đồng có thể nhìn rõ.

    + Khi trả lời những câu hỏi và ý kiến nhận xét của các phản biện, các thành viên của hội đồng, người bảo vệ chỉ cần đề cập thẳng vào bản chất của vấn đề, của sự việc, phải thận trọng và tỏ ra lịch thiệp trong quan hệ với những người phát biểu nhận xét về báo cáo của mình, ngay cả khi có những nhận xét mang tính chất phê phán mạnh mẽ. Bản thân phải thể hiện tính khiêm tốn và tự tin trong việc tự đánh giá kết quả khoa học của mình.

    + Người nghiên cứu nên thiết kế các slides đủ để nói những vấn đề nêu trên. Tùy vào quy mô của công trình, song thông thường, người trình diễn PowerPoint nên để khoảng 1 phút/ slide.

                                                                                                      THS. CAO THỊ NGỌC YẾN

Tài liệu tham khảo:

- Văn Như Cương (2009), “Giá trị thực của nghiên cứu khoa học”, Vietnam Mathematics Forum;

- Nguyễn Lâm, “Kinh nghiệm chuẩn bị, thiết kế và trình bày một nghiên cứu khoa học”.