Đặt vấn đề

Sau giai đoạn tăng trưởng nóng của tín dụng với sự xuất hiện của rất nhiều tổ chức tín dụng, hoạt động mua bán nợ lại được biết đến như một biện pháp xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng thay vì một hoạt động dân sự, thương mại. Bởi vậy, các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động mua bán nợ xấu của tổ chức tín dụng không có nhiều điểm tương đồng với các quy phạm điều chỉnh hoạt động mua bán quyền đòi nợ như một quyền tài sản có giá trị kinh tế thông thường. Với quy định mang nhiều màu sắc hành chính, thực trạng thực hiện pháp luật về mua bán nợ xấu của TCTD không thực sự thuận lợi, trong đó có những khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là bất động sản. Trong phạm vi bài viết, tác giả sẽ tập trung đi vào phân tích thực trạng quy định của pháp luật về mua bán nợ của tổ chức tín dụng có tài sản bảo đảm là bất động sản.

1.                      Khái niệm mua bán nợ và quyền đòi nợ theo pháp luật Việt Nam

“Nợ” là thuật ngữ được sử dụng để chỉ một nghĩa vụ tài sản (khoản tiền, tài sản) mà người có nghĩa vụ phải thực hiện đối với người có quyền khi đến thời điểm phải thực hiện([1]).

Xuất phát từ bản chất của hoạt động mua bán trong pháp luật dân sự, có thể hiểu mua bán nợ có nội dung là một bên (bên bán) chuyển giao quyền đối với khoản nợ của mình cho bên còn lại (bên mua) để lấy lại một lợi ích thường là bằng tiền. Với cách hiểu tương tự, thông tư 09/2015/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước về Quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài lại có cách định nghĩa như sau: “Mua, bán nợ là thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ”. Trong khi đó, sau gần một năm, Nghị định 69/2016/NĐ-CP của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ lại có quan điểm rộng hơn khi cho phép bên bán nợ chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền đòi nợ và các quyền khác liên quan đến khoản nợ cho bên mua nợ và lấy tiền từ bên mua[2]. Cách giải thích khác nhau này xuất phát từ phạm vi tiếp cận, trong khi Thông tư 09/2015/TT-NHNN chỉ áp dụng cho các khoản nợ của tổ chức tín dụng thì Nghị định 69/2016/NĐ-CP lại áp dụng đối với khoản nợ của tất cả các tổ chức, cá nhân. Mặc dù vậy, các khái niệm này vẫn phản ánh được nội dung của hoạt động mua bán nợ, đó chính là chuyển giao quyền đòi nợ/quyền sở hữu khoản nợ cho chủ thể khác để lấy tiền. Do đó, thuật ngữ mua bán nợ cần được hiểu là mua bán trị giá quyền đòi nợ được xác định theo số lượng tiền vay.

Dựa vào khái niệm “quyền tài sản” được ghi nhận tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản, nói cách khác, bởi quyền này thoả mãn các điều kiện (i) trị giá được bằng tiền hoặc có giá trị kinh tế nhất định và (ii) có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự hoặc được phép lưu thông([3]). Theo đó, giá trị của khoản nợ chính là giá trị của quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản, nói cách khác, loại hàng hoá được lưu thông ở đây chính là quyền đòi nợ mà không phải là giá trị khoản nợ. Với phạm vi nghiên cứu của bài viết, nghĩa vụ tài sản của bên có nghĩa vụ chính là hoàn trả cả gốc (có thể có lãi) cho khoản vay tại TCTD, vì vậy bên bán nợ là TCTD được quyền cấp tín dụng.

2. Một số vấn đề pháp lý liên quan tới hoạt động mua bán nợ có tài sản bảo đảm là bất động sản

Đối tượng của hoạt động mua bán là một loại quyền tài sản cho nên khác với các loại tài sản thông thường khác, để thực hiện việc mua bán, chuyển giao quyền đòi nợ cần xác định các vấn đề pháp lý sau:

Thứ nhất, liên quan đến quyền đòi nợ được mua bán. Để hoạt động mua bán nợ được tiến hành, khoản nợ này phải là tài sản được phép lưu thông, nói cách khác, không có quy định hoặc thoả thuận hạn chế việc chuyển giao quyền đòi nợ sang cho chủ thể thứ ba. Ví dụ, theo quy định tại Thông tư 09/2015/TT-NHNN, các khoản nợ được mua, bán phải đáp ứng các điều kiện sau: Hồ sơ, chứng từ và các tài liệu có liên quan của khoản nợ được mua, bán, hợp đồng bảo đảm (nếu có) do bên bán nợ cung cấp phải phản ánh đầy đủ, chính xác thực trạng khoản nợ theo đúng quy định của pháp luật; không có thỏa thuận bằng văn bản về việc không được mua, bán khoản nợ; khoản nợ không được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự tại thời điểm mua, bán nợ trừ trường hợp bên nhận bảo đảm đồng ý bằng văn bản về việc bán nợ. Về hợp đồng mua bán nợ, nội dung của hợp đồng này không được trái với nội dung quy định tại hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã ký kết giữa bên bán nợ, khách hàng và bên bảo đảm.

Với khoản nợ có tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (sau đây gọi là tài sản bảo đảm) là bất đông sản, TCTD là chủ thể có quyền kiểm soát đối với tài sản bảo đảm thông qua các cơ chế pháp luật cho phép như thực hiện quyền đăng ký giao dịch bảo đảm, nắm giữ giấy tờ liên quan. Tuy nhiên, khác với tài sản bảo đảm là động sản, TCTD phải chắc chắn về tình trạng pháp lý và giá trị của bất động sản đó thông qua hoạt động thẩm định giá trị cũng như các biện pháp nghiệp vụ khác. Điều này xuất phát từ việc biến động giá trị cũng như biến động về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm này

Thứ hai, liên quan đến các bên chủ thể có nhu cầu chuyển giao quyền đòi nợ. Theo đó, bên chuyển giao phải là tổ chức, cá nhân có quyền đòi nợ và có nhu cầu chuyển giao quyền đòi nợ. Về lý thuyết, nhu cầu chuyển giao gắn liền với nhu cầu cần thanh khoản, nói cách khác, bên chủ nợ cần ngay một khoản tiền thay vì phải chờ đến thời điểm khoản nợ đến hạn. Bên cạnh các chứng cứ chứng minh khoản nợ được phép mua, bán đủ điều kiện luật định, với khoản nợ có tài sản bảo đảm là bất động sản thì thông tin pháp lý về tài sản bảo đảm cũng là một yếu tố được xem xét kỹ lưỡng khi mua nợ bởi trong một số trường hợp, pháp luật có quy định khá chặt chẽ về điều kiện tiếp nhận tài sản bảo đảm khi mua nợ. Ví dụ như trong Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng thì trường hợp tài sản bảo đảm là dự án bất động sản thì bên nhận nợ phải có phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản([4]).

2.                      Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về mua bán nợ của tổ chức tín dụng có tài sản bảo đảm là bất động sản

Đối tượng chủ yếu của hoạt động mua, bán nợ của các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam (sau đây gọi là TCTD) là các khoản “nợ xấu”([5]). Do vậy, bài viết tập trung vào việc trình bày và phân tích các thực trạng quy định và thực thi pháp luật trong hoạt động mua bán nợ xấu của TCTD có tài sản bảo đảm là bất động sản. Theo đó, với những nỗ lực của Chính phủ trong việc đẩy mạnh việc mua bán nợ nhằm xử lý nợ xấu của các TCTD thì pháp luật về hoạt động mua bán nợ với cách tiếp cận là một biện pháp xử lý nợ xấu của TCTD đã có những quy định mở đường cũng như còn một số tồn tại như sau:

Trước hết, với quy định mới của Nghị quyết 42/2017/QH14 đã công nhận quyền thu giữ tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm là TCTD, điều này đã tạo cơ sở pháp lý cho bên mua nợ thực hiện quyền đối với tài sản bảo đảm là bất động sản([6]). Quy định này đã khắc phục khó khăn trên thực tế khi bên có nghĩa vụ không hợp tác với bên TCTD cũng như bên mua nợ để thay đổi thông tin đăng ký quyền sở hữu. Tuy nhiên, các quy định tạo điều kiện cho việc xử lý nợ xấu như áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý TSBĐ của TCTD hay trách nhiệm phối hợp của chính quyền địa phương và cơ quan công an nhằm thu giữ tài sản bảo đảm không có nhiều ý nghĩa đối với việc mua bán nợ có tài sản bảo đảm là bất động sản. Nói như vậy là bởi cơ chế về thủ tục rút gọn chưa trở nên phổ biến, dẫn tới thời gian xử lý vẫn còn bị kéo dài, ảnh hưởng tới giá trị của tài sản bảo đảm.Thêm vào đó, Nghị quyết 42/2017/QH14 quy định bổ sung vào trách nhiệm cho cơ quan hành pháp vốn dĩ đã rất bận rộn trong công tác quản lý nhà nước như Uỷ ban nhân dân hoặc giao trách nhiệm mở rộng hơn hẳn cho cơ quan công an là cơ quan có chức năng duy trì an ninh, trật tự xã hội. Tác giả đồng tình với một số quan điểm của các nhà nghiên cứu khác([7]) khi cho rằng hiệu quả công việc sẽ không thực sự cao vì quy định pháp luật chỉ ghi nhận phần trách nhiệm tăng thêm mà không có các quy định nhằm duy trì tinh thần làm việc của các cơ quan này.

  Thứ hai, về tính chất của khoản nợ được mua bán. Việc để xảy ra nợ xấu là rủi ro của TCTD trong quá trình kinh doanh khi sở hữu khoản nợ này không những không mang lại lợi ích mà còn có nguy cơ cao trong việc gây ra tổn thất cho chủ nợ đó (bị mất luôn khoản vay), vì vậy nợ xấu không phải là một loại “tài sản” hấp dẫn đối với các chủ thể, nói cách khác, không đáp ứng nhu cầu của các chủ thể muốn thực hiện mua bán, chuyển nhượng. Vì vậy, việc mua bán các khoản nợ xấu này không thể diễn ra theo cơ chế tự có của thị trường mà được thực hiện trên cơ sở chính sách của cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng. Mặc dù không phải tất cả các khoản nợ xấu đều được chuyển nhượng mà chỉ nhưng khoản nợ đáp ứng các điều kiện luật định([8]) nhưng khoản nợ xấu này không đủ điều kiện quan trọng để lưu thông là có giá trị kinh tế, nói cách khác, không nhiều chủ thể muốn sở hữu loại hàng hoá này. Do đó, dù các quy định của pháp luật có hoàn thiện đến mấy nhưng loại hàng hoá được mua bán không mang lại cơ hội sinh lời cũng vô cùng khó khăn khi xử lý.

Vấn đề thứ ba là thông tin liên quan đến khoản nợ. Không khó để giải thích thực trạng các TCTD khi bán nợ đều không muốn cung cấp quá nhiều thông tin về khoản nợ và tài sản bảo đảm bởi các thông tin phần nào sẽ phản ánh về những thiếu sót của TCTD dẫn đến việc không thu hồi được nợ. Thực trạng này càng trở nên khó khăn cho bên mua nợ trong trường hợp tài sản bảo đảm là bất động sản vì các lý do như đã phân tích ở mục 2. Trên thực tế, bên mua nợ cho đến lúc thực hiện thủ tục xử lý tài sản bảo đảm vẫn có thể không biết chính xác được tình trạng pháp lý của bất động sản được bảo đảm do thiếu thông tin hoặc chưa cập nhật kịp thời. Hơn nữa, bên TCTD là chủ thể duy nhất có khả năng kiểm tra về tính chính xác của bất động sản là tài sản bảo đảm, vì vậy trong trường hợp bên TCTD thẩm định thiếu chính xác thì bên mua nợ gặp bế tắc với việc xử lý tài sản bảo đảm là điều hiển nhiên. Mặc dù bên mua nợ thường uỷ quyền lại cho TCTD bán nợ xử lý nhưng rõ ràng việc khắc phục lỗi sai khi thẩm định sai giá trị hoặc sai tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm không hề đơn giản, dẫn tới việc không thể xử lý nợ.

Hạn chế thứ tư gắn với tính chất của bất động sản: khó có thể phủ nhận bất động sản được sử dụng làm tài sản bảo đảm thường có giá trị lớn, gắn với bên có nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, vì các loại tài sản này có sự biến động về giá tri rất mạnh nên không ít trường hợp giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn nhiều so với giá trị khoản vay, dẫn tới việc xử lý tài sản bảo đảm không còn nhiều ý nghĩa. Đặc điểm này dẫn tới nhiều khoản vay được duy trì thay vì bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

Hạn chế tiếp theo gắn với TCTD bán nợ: Theo Thông tư 19/2013/TT-NHNN, TCTD có tỷ lệ nợ xấu từ 3% so với tổng dư nợ tín dụng trở lên phải bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản, nói cách khác, TCTD bắt buộc phải bán nợ cho công ty quản lý tài sản khi có tỉ lệ nợ xấu từ 3% trở lên, điều này ngược lại với hoạt động mua bán nợ còn tính thanh khoản thông thường. Số lượng nợ xấu phải bán càng nhiều chứng tỏ TCTD làm ăn càng không hiệu quả, vì vậy lẽ thông thường TCTD sẽ chỉ bán các khoản nợ mà họ không còn khả năng xử lý. Dễ nhận thấy rằng TCTD là tổ chức tài chính có năng lực tài chính, nhân sự có trình độ cũng như nghiệp vụ chuyên môn tốt, do đó một khi tổ chức này không thể thu hồi khoản nợ thì bên mua nợ buộc phải có nghiệp vụ tốt hơn mới có thể xử lý được. Do đó, khả năng xử lý các khoản nợ được TCTD bán là không cao. Nghị quyết quy định bên bảo đảm, bên giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm kèm theo các giấy tờ liên quan cho TCTD và tổ chức mua bán nợ xấu. Trường hợp không bàn giao thì TCTD, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được thu giữ tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, trên thực tế, dù TCTD và tổ chức mua bán nợ xấu có nắm giữ được tài sản thế chấp cùng với tất cả các giấy tờ liên quan đến tài sản này, thì việc bán lại các tài sản này cho một bên thứ ba cũng không chắc đã diễn ra thành công và suôn sẻ nếu người chủ cũ không chịu làm thủ tục sang tên chủ sở hữu cho chủ sở hữu mới, kể cả đó chính là TCTD hay tổ chức mua bán nợ xấu([9]).

Cùng với đó, thực trạng thực thi pháp luật chưa thực sự hiệu quả bởi một số vấn đề liên quan đến chủ thể mua nợ xấu của TCTD: Theo quy định của pháp luật, chỉ có các tổ chức nhất định mới được thành lập và hoạt động trong lĩnh vực mua bán nợ xấu. Trước yêu cầu giải quyết nợ xấu, làm giảm tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các TCTD, các chủ thể này gồm Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam thuộc Ngân hàng Nhà nước (VAMC), Công ty TNHH mua bán nợ Việt Nam thuộc Bộ Tài chính (DATC), Công ty TNHH một thành viên quản lý nợ và khai thác tài sản do các Ngân hàng thương mại (AMC). Bởi đa số các công ty này đều có vốn điều lệ được cấp thay vì vốn góp của các cổ đông là khối tư nhân, mục đích hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận của các chủ thể hoạt động trong các tổ chức mua nợ này không cao. Với cơ sở hoạt động là chính sách giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu trong thị trường tín dụng, hoạt động mua, bán nợ xấu của các chủ thể này không phải gánh chịu rủi ro cũng như không vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Do đó, việc chưa thực sự rốt ráo xử lý nợ đã mua để đảm bảo năng lực tài chính mua các khoản nợ xấu khác khá dễ dàng được nhận ra. Không chỉ vậy, về nghiệp vụ, hoạt động xử lý nợ đòi hỏi ngoài trình độ chuyên môn còn cần đến kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng, dễ thấy rằng với thực tế các AMC của các TCTD chưa có nhiều hoạt động, VAMC và DATC đều có số năm hoạt động ít hơn các TCTD bán nợ, khả năng xử lý các khoản nợ của các chủ thể này lại trở nên không đơn giản.

Kết luận

Từ những phân tích trên có thể thấy, hoạt động mua bán nợ xấu của các TCTD có nhiều điểm khác biệt lớn so với hoạt động mua bán nợ xấu thông thường khi trong nhiều trường hợp, đối tượng mua bán không còn nhiều giá trị và bên bán cũng như bên mua không thực sự có nhu cầu mua, bán. Đối với khoản nợ có tài sản bảo đảm là bất động sản, với những quy chế pháp lý chặt chẽ đối với việc xác định quyền sở hữu cũng như chuyển nhượng quyền sở hữu và các vấn đề thực tế phát sinh làm cho việc mua bán nợ có tài sản bảo đảm là bất động sản lại trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Mặc dù đã có nhiều quy định khơi thông và mở đường cho việc xử lý nợ nhưng thiết nghĩ, trong tương lai cơ quan có thẩm quyền cần đề xuất và vận hành các phương án mua bán và xử lý nợ khác nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bùi Đức Giang Xử lý tài sản bảo đảm theo nghị quyết về xử lý nợ xấu: Vẫn còn những điểm trừ; Thời báo báo Kinh tế Sài Gòn Online ngày 09/8/2017; http://www.thesaigontimes.vn/163229/Xu-ly-tai-san-bao-dam-theo-nghi-quyet-ve-xu-ly-no-xau-Van-con-nhung-diem-tru.html
  2. Thạch Bình Cụ thể hóa quy định xử lý nợ xấu đăng trên Thời báo Ngân hàng ngày 14/7/2017
  3. Hải Lý; Bán tài sản thế chấp, khó trăm đường; Thời báo báo Kinh tế Sài Gòn Online ngày 01/112017;
  4. Hà Thành, Mở lối cho xử lý nợ xấu; Thời báo ngân hàng ngày 05/9/2017
  5. TS. Đỗ Thị Hà Thương; ThS Trần Nguyễn Cẩm Lai; Công ty quản lý tài sản Việt Nam – từ lý thuyết đến thực tiễn; Tạp chí Ngân hàng số 14/2014 (đăng trên trang web của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 01/11/2017)

6.     Trà Đình Thứ, Pháp luật về hoạt động mua bán nợ của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam; Luận văn thạc sĩ luật học; Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2014

  1. Bộ luật Dân sự năm 2015
  2. Luật Nhà ở năm 2014
  3. Nghị định 53/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng 
    Việt Nam sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 34/2015/NĐ-CP

10.                        Nghị định 69/2016/NĐ-CP của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ

11.                        Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng

  1. Thông tư 09/2015/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước về Quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài


[1] Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp; Từ điển luật học; Nxb Từ điển Bách khoa & Nxb Tư pháp; Hà Nội; 2006; trang 425

[2] Điều 3 khoản 2 Nghị định 69/2016/NĐ-CP của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ

[3] ThS Nguyễn Trường Giang, ThS Bùi Đức Giang; Đi tìm triết lý thế chấp quyền tài sản trong pháp luật Việt Nam; Tạp chí Ngân hàng số 7/2012

[4] Điều 10 Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng

[5] Trà Đình Thứ, Luận văn thạc sĩ luật học; Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2014

[6] Tham khảo việc VAMC thu giữ tài sản bảo đảm (TSBĐ) là Dự án đầu tư Cao ốc phức hợp Sài Gòn M&C (Saigon One Tower) của Công ty Sài Gòn One Tower tại TP. Hồ Chí Minh 

[7] ThS Bùi Đức Giang trong bài viết Xử lý tài sản bảo đảm theo nghị quyết về xử lý nợ xấu: Vẫn còn những điểm trừ đăng trên báo Kinh tế Sài Gòn Online ngày 09/8/2017; Tác giả Thạch Bình với bài viết Cụ thể hóa quy định xử lý nợ xấu đăng trên Thời báo Ngân hàng ngày 14/7/2017

[8] Điều 4 Thông tư 09/2015/TT-NHNN

[9] TS. Đỗ Thị Hà Thương; ThS Trần Nguyễn Cẩm Lai; Công ty quản lý tài sản Việt Nam – từ lý thuyết đến thực tiễn; Tạp chí Ngân hàng số 14/2014 (đăng trên trang web của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 01/11/2017)