1. Quyền sống trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

1.1. Quyền sống trong pháp luật quốc tế

Quyền sống (the right to life) là một quyền tự nhiên, cơ bản của con người được ghi nhận trong các văn kiện cốt lõi của luật nhân quyền quốc tế. Cụ thể, Điều 3 Tuyên ngôn Toàn thế giới về nhân quyền (UDHR) năm 1948 nêu rằng: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân”. Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) cụ thể hóa Điều 3 UDHR, trong đó nêu rằng: “Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện” (Khoản 1).

Bên cạnh ICCPR, một số công ước quốc tế khác về quyền con người cũng đề cập đến quyền sống, trong đó bao gồm Công ước về quyền trẻ em[1], Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng[2], Công ước về trấn áp và trừng trị tội ác a-pác-thai[3]...

Đặc điểm, tính chất và nội hàm của quyền sống đã được Ủy ban Nhân quyền (Human Rights Committee - HRC - cơ quan được lập ra theo ICCPR để giám sát việc thực hiện công ước này của các quốc gia thành viên) đề cập trong Bình luận chung số 6 (thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982), có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:[4]

- Quyền sống là ‘một quyền tối cao (supreme right) của con người mà trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, cũng không thể bị tạm đình chỉ (derogation) việc thực hiện...” (đoạn 1).

- Quyền sống không nên hiểu theo nghĩa hẹp chỉ là sự toàn vẹn về tính mạng mà hơn thế, quyền này bao gồm cả những khía cạnh nhằm bảo đảm sự tồn tại của con người. Theo cách tiếp cận đó, việc bảo đảm quyền sống còn đòi hỏi các quốc gia phải thực thi những biện pháp để làm giảm tỉ lệ chết ở trẻ em và tăng tuổi thọ bình quân của người dân, cụ thể như các biện pháp nhằm xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và các dịch bệnh... (đoạn 2), tức là bao gồm cả các biện pháp thụ động và chủ động để bảo đảm cuộc sống của người dân, đặc biệt là của những cá nhân và nhóm yếu thế.

- Một trong các nguy cơ phổ biến đe dọa quyền sống là chiến tranh và các tội phạm nghiêm trọng như diệt chủng hay tội phạm chống nhân loại. Vì vậy, việc chống chiến tranh và các tội phạm này cũng là sự bảo đảm quyền sống. Theo cách tiếp cận đó, việc bảo đảm quyền sống trong Điều 6 có mối liên hệ với nghĩa vụ cấm các hoạt động tuyên truyền chiến tranh và kích động hận thù, bạo lực nêu ở Điều 20 ICCPR (đoạn 3).

- Phòng chống những hành động tội phạm gây nguy hại hoặc tước đoạt tính mạng con người là biện pháp quan trọng để bảo đảm quyền sống. Các quốc gia thành viên cần tiến hành các biện pháp phòng chống và trừng trị việc tuỳ tiện tước đoạt tính mạng con người do bất kỳ chủ thể nào gây ra, kể cả do các cơ quan và viên chức nhà nước (đoạn 5). Liên quan đến vấn đề này, việc bắt cóc người và đưa đi mất tích cũng bị coi là một trong những hình thức tước đoạt quyền sống, do đó, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ đưa ra những biện pháp và kế hoạch hiệu quả để phòng chống và điều tra các vụ việc dạng này (đoạn 4).

Cũng liên quan đến quyền sống, ngoài Bình luận chung số 6, HRC còn thông qua Bình luận chung số 14 (phiên họp lần thứ 23 năm 1984) trong đó tái khẳng định tầm quan trọng của quyền sống, coi đó là cơ sở cho tất cả các quyền con người, đồng thời nhắc lại yêu cầu phải thực hiện Điều 6 của ICCPR trong mọi hoàn cảnh. Văn bản này nhấn mạnh rằng chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hạt nhân, là nguy cơ lớn nhất đe dọa quyền sống và yêu cầu các quốc gia hạn chế và chấm dứt các cuộc chạy đua vũ trang, đặc biệt là không thiết kế, thử nghiệm, chế tạo, tàng trữ, triển khai và sử dụng các loại vũ khí hạt nhân - những hành vi mà theo HRC cần bị coi là phạm tội ác chống nhân loại.

Những diễn giải nêu trên đã làm rõ một số khía cạnh pháp lý trong nội hàm của quyền sống. Mặc dù vậy, do quyền sống là một khái niệm rất rộng và phức tạp nên vẫn còn nhiều khía cạnh cụ thể khác liên quan đến các vấn đề như tử hình, nạo phá thai, an tử, giết người trong tình huống để tự vệ và trong chiến tranh còn đang được tranh cãi, có thể khái quát như sau:

Thứ nhất, về chủ thể của quyền

Có quan điểm cho rằng quyền sống cần phải áp dụng cho cả con người và loài vật. Tuy nhiên, từ góc độ luật nhân quyền quốc tế, có thể thấy quyền sống chỉ áp dụng cho con người mà không mở rộng đến các loài vật khác. Điều này thể hiện rõ qua việc sử dụng các đại từ nhân xưng là everyone trong Điều 3 UDHR, every human being trong Điều 6 ICCPR mà đều có nghĩa là mọi người.[5]

Có quan điểm cho rằng quyền sống có thể áp dụng với các pháp nhân. Tuy nhiên, trong những phán quyết có liên quan, Tòa án nhân quyền châu Âu đã khẳng định rằng quyền sống chỉ áp dụng cho các thể nhân. Pháp nhân (cùng với thể nhân) có thể được hưởng một số quyền con người như quyền sở hữu tài sản, quyền được tố tụng công bằng, quyền tự do biểu đạt, quyền tự do lập hội… nhưng không bao gồm quyền sống.[6]

Có quan điểm cho rằng quyền sống áp dụng với cả các bào thai còn nằm trong bụng mẹ. Tuy nhiên, trong phán quyết về vụ X kiện Vương quốc Anh năm 1980, Tòa án Nhân quyền châu Âu cho rằng quyền sống về nguyên tắc không áp dụng với các bào thai người.[7] Phán quyết này cũng có nghĩa làviệc phá thai về mặt pháp lý không phải là sự vi phạm quyền sống. Mặc dù vậy, cần thấy là Công ước về quyền trẻ em (CRC) năm 1989 có quy định: ‘Trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” (Lời nói đầu). Như vậy, các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ sự sống của trẻ em từ khi còn là bào thai, song sự bảo vệ đó không đồng nghĩa với việc bảo vệ quyền sống của một tự nhiên nhân, mà thông thường thể hiện chủ yếu qua các chính sách chăm sóc sức khỏe của bà mẹ.

Một vấn đề nữa đặt ra đó là liệu quyền sống có thể áp dụng với người nước ngoài? Về câu hỏi này, như đã đề cập, chủ thể của quyền sống theo luật nhân quyền quốc tế là tất cả mọi người (everyone, every human being).Đại từ nhân xưng này cho thấy quyền sống không phải là đặc quyền dành riêng cho công dân của các quốc gia như các quyền bầu cử, ứng cử… mà còn là quyền của tất cả các cá nhân khác (công dân nước ngoài, người không quốc tịch, người tị nạn, người tìm kiếm cơ hội tỵ nạn...) hiện diện trên lãnh thổ của quốc gia. Vấn đề này cũng được quy định trong nhiều công ước quốc tế khác về nhân quyền, cụ thể như Công ước về vị thế của người tị nạn, Công ước về bảo vệ quyền của người lao động nhập cư và các thành viên trong gia đình họ, Công ước về quyền của người không quốc tịch…

 

Thứ hai, bản chất của quyền

Bản chất của quyền sống liên quan đến câu hỏi là phải chăng các nhà nước không được tước đi tính mạng của cá nhân trong mọi hoàn cảnh?

Về vấn đề này, cần khẳng định rằng xuất phát từ những quy định của luật nhân quyền quốc tế, quyền sống tuy là tối cao (supreme right) và luôn phải được áp dụng kể cả trong trường hợp khẩn cấp của quốc gia (không được tạm đình chỉ thực hiện - Bình luận chung số 6 của HRC, đã nêu ở trên)nhưng không phải là quyền tuyệt đối (absolute right - tức là quyền không thể bị tước đoạt trong mọi hoàn cảnh). Việc ICCPR (Điều 6) vẫn quy định hình phạt tử hình là minh chứng rõ ràng cho điều đó, bởi hình phạt tử hình về bản chất là sự tước đi quyền sống của một cá nhân, nhưng chỉ khi được áp dụng một cách tùy tiện (arbitrarily) thì mới bị coi là vi phạm luật nhân quyền quốc tế. Nghị định thư thứ nhất bổ sung ICCPR về xoá bỏ hình phạt tử hình (1989), tuy được cổ vũ mạnh mẽ bởi Liên hợp quốc, song không phải là bắt buộc, mà chỉ là tùy chọn (optional) với các quốc gia thành viên. Nói cách khác, luật nhân quyền quốc tế không cấm các quốc gia sử dụng án tử hình như là một hình phạt để ngăn ngừa và trừng trị tội phạm, nhưng khuyến khích hạn chế và bãi bỏ hình phạt khắc nghiệt đó.

Thứ ba, bảo đảm quyền sống trong xung đột vũ trang

Liệu việc giết người trong bối cảnh chiến tranh/xung đột vũ trang có phải là sự vi phạm quyền sống? Về vấn đề này, hành vi giết người trong bối cảnh chiến tranh/xung đột vũ trang hiện được điều chỉnh bởi cả hai ngành luật nhân quyền và luật nhân đạo quốc tế. Theo quan điểm chung hiện nay, nếu hành vi này diễn ra giữa các lực lượng vũ trang của các bên tham chiến mà tuân thủ đúng các quy định của luật nhân đạo quốc tế (cấm tấn công vào thường dân và các mục tiêu dân sự, cấm sát hại binh lính đối phương khi họ đã đầu hàng hoặc không còn khả năng chống cự…) hay nói cách khác, việc giết người khi thực hiện các hành vi chiến tranh hợp pháp (deaths resulting from lawful acts of war) thì không bị coi là vi phạm quyền sống được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế.[8]

Thứ tư, quyền sống trong trường hợp tự vệ, trấn áp tội phạm

Luật nhân quyền quốc tế có những quy định rất cụ thể, chi tiết về giới hạn trong hành động của các cán bộ thực thi pháp luật nhằm ngăn ngừa sự tuỳ tiện vi phạm các quyền con người, trong đó có quyền sống. Mặc dù vậy, theo tinh thần của luật nhân quyền quốc tế và pháp luật hình sự của các quốc gia, việc làm chết người trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng vũ lực để bảo vệ tính mạng của bản thân và/hoặc của những người khác mà đang bị người bị giết đe dọa sẽ không bị coi là vi phạm quyền sống, nếu như hành động sử dụng vũ lực đó là hợp pháp, cần thiết và tương xứng với sự đe dọa. Ngoài ra, hành động sử dụng vũ lực gây chết người trong các vụ bắt giữ, trấn áp tội phạm hoặc các vụ nổi loạn, nếu như hợp pháp và hợp lý, thì cũng không bị coi là sự vi phạm quyền sống.

Thứ năm, an tử

An tử (euthanasia, hay còn được gọi là quyền được chết êm ả) là khái niệm chỉ hành động trợ giúp một người mắc bệnh nan y không có khả năng chữa trị được giải thoát khỏi tình trạng sống trong đau đớn kéo dài và vô vọng. Khái niệm và những hành động an tử xuất hiện từ thế kỷ thứ XVII[9] nhưng cho đến nay vẫn gây rất nhiều tranh cãi, xuất phát từ tính chất phức tạp trong việc xác định ý chí của người bệnh và ý định của người trợ giúp.

Từ góc độ quyền sống, an tử thực chất là việc tự nguyện từ bỏ cuộc sống, từ bỏ quyền sống với sự hỗ trợ của người khác (thông thường là bác sĩ). Có hai cách thức trợ tử chủ yếu, đó là: Tiêm thuốc có tác dụng chấm dứt sự sống cho bệnh nhân nan y và ngưng việc điều trị duy trì sự sống của bệnh nhân (rút ống dẫn, tắt các thiết bị y tế…). Hai trường hợp này có sự hỗ trợ trực tiếp của người khác. Ngoài ra, có trường hợp người bệnh tự kết thúc cuộc sống của mình với sự tư vấn của người khác, ví dụ, tự tiêm loại thuốc cần thiết, tự rút ống dẫn hay tắt các thiết bị y tế…[10] Tuy nhiên, trong trường hợp nào thì câu hỏi về việc vi phạm quyền sống chỉ đặt ra với những người hỗ trợ, bởi hành vi tự sát không bị coi là có tội, xét từ phương diện tội phạm học.

Cũng như nhiều khía cạnh phức tạp khác của quyền sống, luật nhân quyền quốc tế chưa đề cập cụ thể đến các vấn đề an tử. Song ở cấp châu lục, Nghị viện của Hội đồng châu Âu, trong một khuyến nghị đưa ra vào năm 1999[11], đã nêu rằng, các quốc gia thành viên cần: “Bảo đảm rằng, trừ khi người bệnh tự lựa chọn, tất cả những người bệnh nan y hoặc sắp chết đều phải được hưởng các biện pháp chăm sóc để làm giảm sự đau đớn, kể cả khi các biện pháp đó có thể gây ra tác dụng phụ là làm giảm thời gian sống của họ”. Khuyến nghị này hàm ý rằng việc hỗ trợ ngưng các thiết bị điều trị duy trì sự sống của bệnh nhân theo ý nguyện của người đó sẽ không bị coi là vi phạm quyền sống. Mặc dù vậy, nếu việc này được thực hiện với những bệnh nhân không có khả năng thể hiện ý chí của mình (ví dụ, sống thực vật) thì sẽ bị coi là vi phạm quyền sống.[12]

Tuy nhiên, “quyền được chết” không phải được coi là được chấp nhận với mọi người, vì thế có thể gây ra những hậu quả khác nhau với những đối tượng liên quan trong những bối cảnh khác nhau. Ví dụ, trong phán quyết về vụ X kiện CHLB Đức[13] năm 1977, Tòa án nhân quyền châu Âu đã cho rằng nguyên đơn (là một tù nhân) trong bối cảnh sức khỏe bình thường, không thể viện dẫn mình có quyền được chết để tuyệt thực tự sát, và việc quản giáo bắt buộc anh ta phải ăn để duy trì sự sống không bị coi là vi phạm quyền được chết, cũng như không bị coi là đã có hành động đối xử tàn bạo, vô nhân đạo với người này. Tương tự, trong vụ Keenan kiện Vương quốc Anh vào năm 2001[14], Tòa đã phán rằng quản giáo có nghĩa vụ ngăn cản nguyên đơn (cũng là một tù nhân nhưng có tiền sự bị tâm thần) tự sát trong tù.

1.2. Quyền sống trong phápluậtViệtNam

Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền sống đã được đề cập trong những đạo luật của các triều đại phong kiến, tiêu biểu như Quốc triều Hình Luật (Hậu Lê), Bộ luật Gia Long (Nguyễn)… thông qua những quy định nhằm ngăn ngừa và trừng trị những hành vi tuỳ tiện tước bỏ tính mạng của con người.

Trong thời hiện đại, quyền sống theo nghĩa rộng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ngay trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, thông qua việc nhắc lại tuyên bố về quyền này trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".Sau đó, các văn bản pháp luật chuyên ngành, đặc biệt là các văn bản pháp luật hình sự, đã có những quy định về bảo vệ tính mạng của con người khỏi bị xâm hại một cách trái pháp luật.

Tuy nhiên, trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và trong các đạo luật chuyên ngành trước đây, quyền sống không được đề cập như một quyền cụ thể, mà chỉ được thể hiện thông qua các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân. Chỉ đến Hiến pháp năm 2013, quyền này mới được nêu trực tiếp trong Điều 19 và được gắn với sự bảo hộ pháp lý về tính mạng: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”.

Việt Nam cũng đã tham gia cả hai Công ước quốc tế cơ bản về nhân quyền năm 1966 (ICCPR, ICESCR) và một số điều ước quốc tế khác về quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như Công ước về quyền trẻ em, 1989, Công ước về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, 1979… Việt Nam cũng đã ký và dự định sớm phê chuẩn Công ước về quyền của những người khuyết tật, 2006. Đây là những cơ sở pháp lý quốc tế để thúc đẩy các quyền của những nhóm yếu thế, bao gồm quyền sống, ở Việt Nam.

Ngoài quy định nêu trên của Hiến pháp năm 2013, quyền sống hiện còn được bảo vệ qua một số điều khoản khác của Hiến pháp năm 2013 và trong một số đạo luật chuyên ngành, ví dụ như Bộ Luật Hình sự, Bộ luật dân sự… Xét một cách khái quát, Việt Nam đã có một khuôn khổ pháp luật khá hoàn chỉnh để bảo đảm quyền của những nhóm yếu thế, bao gồm quyền sống của họ theo nghĩa rộng, tức là quyền được bảo đảm các điều kiện để tồn tại. Ví dụ, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em được thông qua từ năm 1991 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004) đã quy định các quyền cơ bản của trẻ em, trong đó bao gồm quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 12). Luật cũng dành hẳn chương IV (Điều 40-58) quy định về việc bảo vệ những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. (Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma túy; trẻ em vi phạm pháp luật) mà có ý nghĩa quan trọng với việc bảo đảm sự sống còn và phát triển của những trẻ em này.

Liên quan đến vấn đề an tử, quyền được chết êm ả chưa từng được quy định trong các Hiến pháp cũng như pháp luật của Việt Nam (đặc biệt là Bộ luật Dân sự). Nói cách khác, trong pháp luật Việt Nam, quyền này chưa được coi là quyền nhân thân của con người. Tuy nhiên, quyền được chết êm ả đã được đưa ra thảo luận Quốc hội khóa XI (kỳ họp thứ 6 và 7, các năm 2004, 2005) khi bàn về dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005[15].

Từ những phân tích ở trên, có thể thấy pháp luật Việt Nam đã tương thích với những nguyên tắc quốc tế cơ bản về quyền sống. Mặc dù vậy, vẫn còn một số khía cạnh cần được nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp hơn với pháp luật quốc tế và xu hướng chung trên thế giới, trong đó có vấn đề hình phạt tử hình (mà được đề cập trong mục dưới đây).

2. Hình phạt tử hình trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

2.1. Hình phạt tử hình trong pháp luật và thực tiễn quốc tế

Hình phạt tử hình là chế tài hình sự nghiêm khắc nhất của một nhà nước, dẫn đến hậu quả là tước đi quyền sống, vĩnh viễn loại trừ một cá nhân ra khỏi xã hội.

Như đã đề cập ở phần trên, luật nhân quyền quốc tế bảo vệ quyền sống nhưng không xem đó là một quyền tuyệt đối mà không thể bị tước bỏ trong mọi trường hợp. Trong ICPPR và các văn kiện khác của luật nhân quyền quốc tế không có điều khoản nào bắt buộc các quốc gia thành viên phải xóa bỏ án tử hình hoặc xem việc áp dụng hình phạt tử hình là sự vi phạm quyền sống. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền sống khỏi bị tước bỏ một cách tuỳ tiện, hay nói cách khác là để phòng ngừa việc lạm dụng hình phạt tử hình, luật nhân quyền quốc tế quy định các quốc gia có nghĩa vụ giới hạn áp dụng hình phạt này chỉ với “những tội ác nghiêm trọng nhất”. Ngoài ra, luật nhân quyền quốc tế còn quy định nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm những thủ tục tố tụng công bằng ở mức độ cao nhất với những vụ việc mà bị cáo bị xét xử với mức án tử hình, trong đó bao gồm những khía cạnh như không áp dụng hồi tố, xét xử công khai, được giả định vô tội, bảo đảm các quyền bào chữa, kháng cáo và xin ân giảm... (đoạn 6 Bình luận chung số 6, đã nêu ở trên).

Tuy nhiên, khái niệm “các tội phạm nghiêm trọng nhất” trong thực tế chưa được hiểu một cáchthống nhất ở các quốc gia, và việc diễn giải cụm từ này khác nhau đã dẫn đến phạm vi tội phạm có thể bị kết án tử hình khác nhau giữa các nước.

Từ góc độ quan điểm của các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc,HRC cho rằng: “Cụm từ “các tội phạm nghiêm trọng nhất” phải được giải thích với ý nghĩa rằng hình phạt tử hình phải là một biện pháp ngoại lệ”, trong đó không bao gồm các tội phạm về kinh tế, tội tham nhũng, các tội phạm về chính trị, tội cướp, bắt cóc mà không gây hậu quả chết người, bội giáo và các tội liên quan đến ma túy.[16] Uỷ ban Nhân quyền của Liên hợp quốc[17] thì giải thích rằng khái niệm “các tội phạm nghiêm trọng nhất” không bao gồm những hành vi phi bạo lực như các tội phạm tài chính, việc thực hành tôn giáo hoặc thể hiện tín ngưỡng hoặc quan hệ tình dục đồng thuận giữa những người trưởng thành.[18] Còn theo đoạn 1 của văn kiện hướng dẫn “Các bảo đảm về quyền của những người đối mặt với án tử hình” được ban hành kèm theo Nghị quyết 1996/15 ngày 23/7/1996 của ECOSOC thì: “Tại các quốc gia chưa bãi bỏ hình phạt tử hình, án tử hình chỉ được áp dụng đối với các tội phạm nghiêm trọng nhất, và cần hiểu rằng phạm vi của các tội này không vượt ra khỏi các tội phạm mang tính quốc tế gây ra hậu quả chết người hoặc các hậu quả nghiêm trọng khác”.

Từ những diễn giải ở trên, có thể thấy rằng theo quan điểm của các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc, phạm vi tội danh có thể áp dụng hình phạt tử hình là rất hẹp, cơ bản chỉ giới hạn ở tội giết người với tình tiết tăng nặng.

Trong thực tế, các công ước về luật hình sự quốc tế (ví dụ, Quy chế của Toà án Hình sự quốc tế xét xử các tội ác chiến tranh ở Nam Tư cũ, Quy chế Rôm về Toà án Hình sự quốc tế...) cũng không quy định hình phạt tử hình với những tội phạm, kể cả những tội ác nghiêm trọng nhất về nhân quyền như tội diệt chủng, tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại, tội xâm lược. Thay vào đó, hình phạt cao nhất với các dạng tội phạm này là tù chung thân.

Trong thực tiễn, xu hướng chung trên thế giới trong những thập kỷ gần đây là giảm và tiến tới xoá bỏ hình phạt tử hình. Cụ thể, số lượng các quốc gia xoá bỏ hình phạt tử hình ngày càng tăng, và số lượng các quốc gia thi hành án tử hình ngày càng giảm (xem các biểu sau):

Biểu 1. Số lượng quốc gia xoá bỏ hình phạt tử hình trong giai đoạn 1997-2016[19]

 


Biểu 2. Số lượng quốc gia thi hành án tử hình trong giai đoạn 1997-2016[20]

2.2. Hình phạt tử hình trong pháp luật và thực tiễn Việt Nam

Như một số quốc gia khác, Việt Nam vẫn duy trì hình phạt tử hình trong BLHS.Theo quy định tại Điều 40 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì:

1. Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

2. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

3. Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

b) Người đủ 75 tuổi trở lên;

c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

4. Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân”.

Xét về mặt lịch sử, hình phạt tử hình đã được áp dụng từ thời phong kiến ở nước ta cho đến nay[21], tuy ở mỗi thời kỳ, cách thức và mức độ áp dụng hình phạt này có những điểm khác nhau.

Trong thời kỳ hiện đại, hình phạt này đã từng được nhấn mạnh ở giai đoạn 1989-1997, thể hiện ở sự gia tăng số lượng các tội danh có thể bị kết án tử hình từ 29 trong BLHS năm 1985 lên 44 vào năm 1997, sau 4 lần sửa đổi (vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997), trong đó nhiều nhất là các tội danh về ma túy. Tuy nhiên, kể từ năm 1999, Nhà nước Việt Nam đã liên tục giảm số tội danh có thể bị tuyên hình phạt này, cụ thể là từ 44 xuống còn 29 trong BLHS năm 1999, xuống còn 22 trong lần sửa đổi năm 2009 của BLHS năm 1999 và còn 18 trong BLHS năm 2015. Tỷ lệ các tội danh có quy định hình phạt tử hình trên tổng số tội danh của BLHS 2009 là 22/272 (trên 8%), giảm khoảng 3% so với BLHS năm 1999; khoảng 6,87% so với BLHS năm 1985 và 12,64% so với BLHS năm 1985.[22]

Tổng cộng có bảy tội danh đã được xoá bỏ hình phạt tử hình trong BLHS 2015 bao gồm: Cướp tài sản; Sản xuất, buôn bán hàng cấm là lương thực, thực phẩm; Tàng trữ trái phép chất ma túy; Chiếm đoạt chất ma túy; Phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Chống mệnh lệnh; Đầu hàng địch. Đồng thời, BLHS cũng đã bỏ tội danh hoạt động phỉ mà trước đây có quy định hình phạt tử hình.

Các tội danh hiện còn áp dụng hình phạt tử hình theo BLHS 2015 bao gồm: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); Giết người (Điều 123); Tham ô tài sản (Điều 353); Nhận hối lộ (Điều 354); Phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 421); Chống loài người (Điều 422); Tội phạm chiến tranh (Điều 423); Phản bội Tổ quốc (Điều 108); Mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109); Bạo loạn (Điều 112); Gián điệp (Điều 110); Khủng bố (Điều 299); Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113); Phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); Vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250).

Mặc dù BLHS hiện hành quy định hình phạt tử hình đối với 18 tội danh, nhưng trên thực tế thời gian vừa qua ở Việt Nam các Tòa án chủ yếu áp dụng hình phạt này với tội giết người và các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy[23].

Bên cạnh việc giảm dần số tội danh có quy định hình phạt tử hình, pháp luật hình sự trong những năm gần cũng có những sửa đổi về thủ tục áp dụng hình phạt này nhằm phù hợp hơn với các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế. Ví dụ, BLHS năm 1999 đã bãi bỏ quy định liên quan đến việc thi hành án tử hình ngay sau khi xét xử trong trường hợp đặc biệt, mà đã được ghi trong các BLHS trước đó, đồng thời bổ sung đối tượng không bị áp dụng và thi hành hình phạt này là phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Gần đây, pháp luật hình sự cũng được sửa đổi để cho phép người thân của tử tù được mang xác về chôn, và thay đổi cách thức hành quyết từ xử bắn sang tiêm thuốc độc (được coi là nhân văn hơn với cả tử tù và những người thi hành án).

BLHS năm 2015 cũng đã bổ sung các quy định mớibao gồm: không áp dụng hình phạt tử hình đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử và không thi hành án tử hình đối với họ (các khoản 2, 3 Điều 40); không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ¾ tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn (điểm c khoản 3 Điều 40). Ngoài ra, BLHS năm 2015 đã bổ sung trường hợp giảm mức hình phạt đã tuyên: “Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm” (khoản 6 Điều 63).

Tuy nhiên, cần thấy rằng phạm vi và mức độ áp dụng hình phạt tử hình trong BLHS của Việt Nam hiện vẫn còn rộng so với nhiều nước và so với quan điểm của Liên hợp quốc. Theo thống kê của tổ chức Ân xá quốc tế, Việt Nam thuộc vào 55 nước trên thế giới hiện vẫn còn tuyên hình phạt này,[24] và thuộc vào nước vẫn còn thi hành nhiều án tử hình[25] (xem biểu dưới đây).

Biểu 3. Các quốc gia còn thi hành án tử hình trong năm 2016[26]

Biểu 4. Các quốc gia thi hành nhiều án tử hình trong giai đoạn 1997-2016[27]

Để phù hợp với quan điểm của Liên hợp quốc, xu hướng chung trên thế giới và thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó chủ trương từng bước hạn chế, giảm tối đa quy định hình phạt tử hình đối với các tội phạm, vẫn cần tiếp tục nghiên cứu giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình.

Phù hợp chung với xu hướng chung trên thế giới, nên mạnh dạn xóa bỏ hình phạt tử hình với những nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu, tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội khủng bố và hầu hết các tội trong nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định của BLHS hiện hành, bởi theo quan điểm của Liên hợp quốc, đây là những tội phạm không nên bị kết án tử hình, và trong thực tế ở nước ta thời gian qua rất ít khi áp dụng. Cũng nên xóa bỏ hình phạt tử hình với nhóm tội xâm hại an ninh và hòa bình thế giới, bởi trong thực tế nước ta hầu như không áp dụng, nhưng quan trọng hơn là ngay trong các điều ước của luật hình sự quốc tế (Quy chế Rôm về Tòa án Hình sự quốc tế năm 1998) cũng không quy định hình phạt tử hình với những tội danh này.

Hình phạt tử hình cũng nên được xóa bỏ đối với các tội phạm ma túy - mặc dù đây là các tội phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội. Đó là bởi việc áp dụng hình phạt tử hình với tội phạm ma túy bị phản đối rất gay gắt bởi cộng đồng quốc tế, do nhiều người phạm tội là người nghèo và do tác dụng ngăn chặn của hình phạt tử hình với dạng tội phạm này là vấn đề rất gây tranh cãi.

Đối với những tội vẫn quy định hình phạt tử hình, BLHS chỉ nên quy định áp dụng trong những trường hợp hành vi phạm tội mang tính bạo lực, dã man, tàn bạo, gây bất bình trong nhân dân, hoặc phạm tội có tổ chức với quy mô lớn, có sự câu kết chặt chẽ giữa các băng, nhóm tội phạm trong việc thực hiện tội phạm, gây thiệt hại cho nhiều người, đối tượng thực hiện là những kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.[28]

Xét tổng quát, trong trường hợp vẫn còn duy trì, chỉ nên giữ lại hình phạt tử hình với tội giết ngườitội phản quốc.

Ngoài các khía cạnh trên, liên quan đến hình phạt tử hình, Nhà nước nên:

- Nghiên cứu việc tái công khai các số liệu thống kê về việc áp dụng hình phạt tử hình (như đã từng làm trước đây) để phù hợp với một loạt Nghị quyết trong các năm 2007, 2008,2010 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về việc không áp dụng án tử hình, trong đó kêu gọi các quốc gia “cung cấp cho Tổng Thư ký Liên Hợp quốc thông tin về việc áp dụng hình phạt tử hình và việc thực hiện các biện pháp bảo vệ những người đối mặt với án tử hình”, và “công bố thông tin về việc áp dụng án tử hình thông tin nào có thể đóng góp vào các cuộc tranh luận quốc gia về sự minh bạch”. Việc công khai thông tin về tình hình áp dụng hình phạt tử hình sẽ góp phần nâng cao uy tín về nhân quyền của Việt Nam với cộng đồng quốc tế và tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, thảo luận chuyên sâu về vấn đề này ở nước ta.

- Tiếp tục tăng cường khuôn khổ pháp lý và các biện pháp bảo vệ, thúc đẩy các quyền của những người bị kết án tử hình, bao gồm những tử tù chờ được hành quyết phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan.

- Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc quy định các hình phạt thay thế hình phạt tử hình và những quy định đặc biệt có tính chất nhân đạo về việc áp dụng hình phạt này, ví dụ như quy định về án tử hình cho hoãn thi hành trong 2 năm để có thể được xem xét giảm xuống tù chung thân (Trung Quốc), hay việc kết án nhưng không thi hành trên thực tế.

- Nghiên cứu khả năng tham gia Nghị định thư Tùy chọn thứ hai của ICCPR về xóa bỏ hình phạt tử hình.

- Khuyến khích các nghiên cứu và tranh luận trong xã hội về các vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp lý quốc tế và quốc gia về hình phạt tử hình. Đề nghị các Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ quốc tế và các quốc gia đã bãi bỏ hình phạt này tư vấn và trợ giúp trong việc sửa đổi pháp luật, chính sách về hình phạt tử hình.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Amnesty International Globle Report, Death Sentences and Executions 2016, tại https://www.amnesty.org/en/what-we-do/death-penalty/
  2. Human Rights Committee, General Comment 6, Article 6 (Sixteenth session, 1982), Compilation of General Comments and General Recommendations Adopted by Human Rights Treaty Bodies, U.N. Doc. HRI/GEN/1/Rev.1 at 6 (1994).
  3. Douwe Korff, A Guide to the Implementation of Article 2 of the European Convention

    on Human Rights, Human Rights Handbook No.8, Council of Europe, 2006, tr.8.

  4. McCann and others v. the United Kingdom, 1995, tại http://hudoc.echr.coe.int/sites/eng/pages/search.aspx?i=001-57943
  5. X v. the United Kingdom, Appl. No. 8416/79, admissibility decision of 13 May 1980. Tại http://hudoc.echr.coe.int/sites/eng/pages/search.aspx?i=001-57602#{"itemid":["001-57602"]}
  6. Nguyễn Văn Hoàn, Chính sách, pháp luật của Việt Nam về hình phạt tử hình, Kỷ yếu Hội thảo về quyền sống và hình phạt tử hình do Viện Chính sách công và Pháp luật tổ chức tại Hà Nội năm 2013.
  7. Trương Hồng Quang, Những vấn đề lý luận chung về quyền được chết, tại https://hongtquang.wordpress.com/2009/07/23/nh%E1%BB%AFng-v%E1%BA%A5n-d%E1%BB%81-ly-lu%E1%BA%ADn-chung-v%E1%BB%81-quy%E1%BB%81n-d%C6%B0%E1%BB%A3c-ch%E1%BA%BFt/#more-22
  8. Parliamentary Assembly of the Council of Europe, Recommendation 1418(1999), paragraph 9, at (a) (vii)), tại http://assembly.coe.int/main.asp?link=/Documents/AdoptedText/ta99/EREC1418.htm
  9. Tập thông tin về các hình phạt thay thế cho hình phạt tử hình, Dự án cải cách hình sự quốc tế.


[1] Điều 6 Công ước này quy định, các quốc gia thành viên thừa nhận rằng tất cả trẻ em đều có quyền cố hữu là quyền sống.

[2] Điều 2 Công ước này đưa ra định nghĩa về tội diệt chủng, trong đó bao gồm hành động giết các thành viên của một nhóm dân tộc, chủng tộc, sắc tộc hoặc tôn giáo nhất định

[3] Điều 2 Công ước này đưa ra định nghĩa về tội ác a-pác-thai, trong đó bao gồm hành động giết các thành viên của một nhóm chủng tộc hoặc giết cả nhóm chủng tộc đó.

[4]Human Rights Committee, General Comment 6, Article 6 (Sixteenth session, 1982), Compilation of General Comments and General Recommendations Adopted by Human Rights Treaty Bodies, U.N. Doc. HRI/GEN/1/Rev.1 at 6 (1994).

[5]Những đại từ đó cũng được sử dụng trong quy định về quyền sống ở các công ước về nhân quyền của châu Âu, châu Mỹ và Hiến chương châu Phi về quyền của con người và quyền của các dân tộc.

[6]Douwe Korff, A guide to the implementation of Article 2 of the European Convention

on Human Rights, Human Rights Handbook No.8, Council of Europe, 2006, tr.8.

[7]X v. the United Kingdom, Appl. No. 8416/79, admissibility decision of 13 May 1980. Tại http://hudoc.echr.coe.int/sites/eng/pages/search.aspx?i=001-57602#{"itemid":["001-57602"]}

[8]Ví dụ, xem phán quyết của Tòa án Nhân quyền châu Âu trong vụ McCann và những người khác kiện Vương quốc Anh (McCann and others v. the United Kingdom), 1995, tại http://hudoc.echr.coe.int/sites/eng/pages/search.aspx?i=001-57943

[9]Xem Trương Hồng Quang, Những vấn đề lý luận chung về quyền được chết, tại https://hongtquang.wordpress.com/2009/07/23/nh%E1%BB%AFng-v%E1%BA%A5n-d%E1%BB%81-ly-lu%E1%BA%ADn-chung-v%E1%BB%81-quy%E1%BB%81n-d%C6%B0%E1%BB%A3c-ch%E1%BA%BFt/#more-22

[10]Xem Trương Hồng Quang, tài liệu trên.

[11] Parliamentary Assembly of the Council of Europe, Recommendation 1418

(1999), paragraph 9, at (a) (vii)), tại http://assembly.coe.int/main.asp?link=/Documents/AdoptedText/ta99/EREC1418.htm

[12] Xem Douwe Korff, A guide to the implementation of Article 2 of the European Convention

on Human Rights, Human Rights Handbook No.8, Council of Europe, 2006, tr.17.

[13] http://co-guide.org/jurisprudence/case-x-v-germany-application-no-770576

[14] http://swarb.co.uk/keenan-v-the-united-kingdom-echr-3-apr-2001/

[15]Xem Trương Hồng Quang, tài liệu đã dẫn.

[16] Xem, Tập thông tin về các hình phạt thay thế cho hình phạt tử hình, Dự án cải cách hình sự quốc tế.

[17]UN Commission on Human Rights - cơ quan trực thuộc Hội đồng Kinh tế-Xã hội ECOSOC, đã được thay thế bởi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.

[18] Xem, Tập thông tin về các hình phạt thay thế cho hình phạt tử hình, Dự án cải cách hình sự quốc tế.

[19]Nguồn: Amnesty International Globle Report, Death Sentences and Executions 2016, tại https://www.amnesty.org/en/what-we-do/death-penalty/, tr.25

[20]Nguồn: Amnesty International Globle Report, Death Sentences and Executions 2016, tại https://www.amnesty.org/en/what-we-do/death-penalty/, tr.25

[21] Ngoại trừ thời Lý có tài liệu nêu rằng hình phạt này được xoá bỏ, song không có dẫn chứng đáng tin cậy.

[22]Xem Nguyễn Văn Hoàn, Chính sách, pháp luật của Việt Nam về hình phạt tử hình.Kỷ yếu Hội thảo về quyền sống và hình phạt tử hình do Viện Chính sách công và Pháp luật tổ chức tại Hà Nội năm 2013.

[23]Xem Nguyễn Văn Hoàn, Chính sách, pháp luật của Việt Nam về hình phạt tử hình,tài liệu đã dẫn.

[24] Bao gồm Afghanistan (4+), Algeria (50), Bangladesh (245+), Barbados (3), Belarus (4), Cameroon (160+), China (+),

Democratic Republic of the Congo (93+), Egypt (237+), Ethiopia (2), Ghana (17), Guyana (1), India (136),

Indonesia (60+), Iran (+), Iraq (145+), Japan (3), Jordan (13), Kazakhstan (1), Kenya (24+), Kuwait (49),

Laos (3+), Lebanon (126), Liberia (5+), Libya (1+), Malawi (1), Malaysia (36+), Maldives (2), Mali (30),

Morocco/Western Sahara (6), Myanmar (3+), Niger (11), Nigeria (527), North Korea (+), Pakistan (360+),

Palestine (State of) (21: Hamas authorities, Gaza), Papua New Guinea (1), Qatar (4), Saudi Arabia (40+),

Sierra Leone (5), Singapore (7+), Somalia (60: Puntland 45; Somaliland 8; Federal Government of Somalia 7),

South Sudan (+), Sri Lanka (79+), Sudan (21+), Taiwan (2), Tanzania (19), Thailand (216), Trinidad and

Tobago (2), Tunisia (44), United Arab Emirates (26), USA (32), Viet Nam (63+), Zambia (101), Zimbabwe (8). Nguồn Amnesty International Globle Report, Death Sentences and Executions 2016, tài liệu đã dẫn, tr.5

[25] Bao gồm Afghanistan (6), Bangladesh (10), Belarus (4+), Botswana (1), China (+), Egypt (44+), Indonesia (4), Iran

(567+), Iraq (88+), Japan (3), Malaysia (9), Nigeria (3), North Korea (+), Pakistan (87+), Palestine (State of)

(3: Hamas authorities, Gaza), Saudi Arabia (154+), Singapore (4), Somalia (14: Puntland 1, Somaliland 6,

Federal Government of Somalia 7), South Sudan (+), Sudan (2), Taiwan (1), USA (20),

Viet Nam (+). Nguồn Amnesty International Globle Report, Death Sentences and Executions 2016, tài liệu đã dẫn, tr.5

[26]Nguồn: Amnesty International Globle Report, Death Sentences and Executions 2016, tại https://www.amnesty.org/en/what-we-do/death-penalty/, tr.26

[27]Nguồn: Amnesty International Globle Report, Death Sentences and Executions 2016, tại https://www.amnesty.org/en/what-we-do/death-penalty/, tr.25

[28]Xem Nguyễn Văn Hoàn, Chính sách, pháp luật của Việt Nam về hình phạt tử hình, Kỷ yếu Hội thảo.