Đặt vấn đề

Ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp năm 2013). Cùng với việc xác định TAND là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, sứ mệnh của TAND được xác định là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đây là những điểm mới có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử lập hiến Việt Nam, khẳng định những nguyên tắc của nền tư pháp hiện đại, trong đó ghi nhận nguyên tắc tối quan trọng được quy định tại khoản 5 Điều 103 là “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, tranh tụng được ghi nhận là một nguyên tắc. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Điều 13 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24/11/2014 và tại Điều 26 Luật Tố tụng hình sự ngày 25/11/2015 đều quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; việc quy định nguyên tắc tại các văn bản pháp lý trên là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tiễn việc thực hiện nguyên tắc này vẫn còn những bất cập từ phương diện lập pháp đến phương diện thực thi. Chính vì vậy, cần phải tiếp tục nghiên cứu, đề xuất từ các nhà nghiên cứu, những người làm công tác thực tiễn để nguyên tắc hiến định này thật sự được đảm bảo thực thi một cách có hiệu quả trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Bài viết này có mong muốn được góp thêm tiếng nói trong quá trình đó.

1.   Một số hạn chế, bất cập khi thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử các vụ án hình sự

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, nhưng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, tuy nhiên cho đến nay các thẩm phán và kiểm sát viên chưa được tập huấn chuyên sâu về kỹ năng điều khiển tranh tụng của Chủ tọa phiên tòa, hay kỹ năng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa, và cũng chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật.

Nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử có mối liên hệ chặt chẽ với các nguyên tắc khác của tố TTHS tạo thành một hệ thống thống nhất, đồng thời chịu sự tác động qua lại lẫn nhau đặc biệt là đối với các nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo nguyên tắc xác định sự thật khách quan về vụ án và nguyên tắc giả định bị cáo vô tội. Nguyên tắc này là điều kiện bảo đảm cho nguyên tắc kia và ngư­ợc lại. Nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử bảo đảm cho các chủ thể (trong đó bị cáo, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị cáo là một bên) tham gia tranh tụng các quyền tố tụng bình đẳng tức là tạo ra khả năng để các chủ thể nói chung và bị cáo nói riêng bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của mình và chính nhờ vậy mà Tòa án có thể xem xét vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ để có quyết định đúng đắn về vụ án. Nguyên tắc tranh tụng không chỉ là một bảo đảm để thực hiện quyền bào chữa của bị cáo mà còn là ph­ương tiện để xác định sự thật khách quan của vụ án.

- Bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tranh tụng là một nội dung cơ bản của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự, là cơ sở để xác định t­ư cách tố tụng của bị cáo không chỉ là một chủ thể mà còn là một bên tham gia tranh tụng bình đẳng với bên buộc tội. Tuy nhiên, việc thể hiện nội dung ấy tại các điều luật cụ thể vẫn chư­a được các nhà làm luật quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tại Điều 73 Bộ luật tố tụng năm 2015  quy định người bào chữa có quyền:

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;

b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này....

Tuy nhiên, luật chưa quy định trường hợp nào người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý và trường hợp nào không đồng ý cho người bào chữa hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam dẫn đến sự tùy tiện của người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai.

Các quy định tại các Điều 288, 289, 290, 291 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trong mọi tr­ường hợp KSV vắng mặt phải hoãn phiên tòa trong khi đó ngư­ời bào chữa hoặc bị cáo và các chủ thể khác vắng mặt thì vẫn có thể tiến hành xét xử vụ án. Chúng tôi cho rằng quy định nh­ư vậy là ch­ưa đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng, tuy tiện lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng sẽ không bảo đảm đư­ợc các quyền lợi của công dân đặc biệt là của bị cáo. Sự vắng mặt của luật sư­ và của bị cáo ở phiên tòa sẽ làm cho quá trình tranh tụng mất đi ý nghĩa của nó bởi thiếu một bên tham gia và một chức năng quan trọng là bào chữa không được thực hiện.

Trong thực tiễn thì sự bất bình đẳng giữa hai bên càng thể hiện rõ nét hơn. Theo quy định của pháp luật thì ng­ười bào chữa có thể tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can; và nếu bắt ng­ười trong tr­ường hợp khẩn cấp, bắt ngư­ời trong trường hợp phạm pháp quả tang thì luật sư có thể tham gia ngay từ khi có quyết định tạm giữ. Nh­ưng thực tế cho thấy, rất ít trư­ờng hợp ng­ười bào chữa thực hiện được điều đó. Số vụ án có luật sư tham gia (chủ yếu là ở giai đoạn xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm) chiếm tỷ lệ thấp. Các cơ quan tiến hành tố tụng không làm tròn nghĩa vụ của mình để đảm bảo cho bị can, bị cáo thực hiện được quyền có ng­ười bào chữa, thậm chí có trư­ờng hợp còn gây khó khăn cho luật sư trong quá trình tham gia tố tụng, tại phiên tòa vị trí ngồi của luật sư­ bào chữa cũng thể hiện sự tôn trọng địa vị tố tụng của luật sư­ và sự bất bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa... Thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử cho thấy rằng phần lớn các trường hợp vi phạm nghiêm trọng pháp luật từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng đều không có sự tham gia của luật sư vào quá trình tố tụng hình sự. Những phiên tòa không có luật sư bào chữa thì rõ ràng là việc tranh tụng diễn ra tẻ nhạt một chiều, bị cáo không có khả năng để tự bào chữa và bị áp đảo hoàn toàn so với bên buộc tội.

Sự tham gia của luật sư­ trong quá trình tố tụng quan trọng như­ vậy, như­ng cả về cơ sở pháp lý và thực tiễn luật sư tham gia phiên tòa là rất hạn chế, việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư còn phức tạp và như­ thế sẽ khó khăn cho quá trình bảo vệ quyền lơị cho bị cáo.

Các bên có đư­ợc những chứng cứ xác thực có giá trị để tham gia tranh tụng tại phiên tòa thì việc tham gia thu thập chứng cứ ngay từ giai đoạn đầu tiên là rất quan trọng, nhất là ở giai đoạn khởi tố, điều tra. Như­ng thực tế, việc tham gia của người bào chữa ở giai đoạn này rất khó khăn do những quy định của pháp luật chưa chặt chẽ, cụ thể.

Thực tế cho thấy, quyền nhờ người khác bào chữa cho bị can, bị cáo vẫn

ch­ưa được các cơ quan tiến hành tố tụng thật sự tôn trọng, nhất là đối với cơ quan điều tra. Thậm chí ở một số nơi, việc thực hiện quyền này vẫn đang là sự thách đố đối với bị can, ngư­ời đại diện hợp pháp của họ và ng­ười bào chữa. Đặc biệt là đối với bị can đang bị tạm giam, bởi các lý do chủ yếu sau: Theo quy định của Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “ trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, điều tra viên phải giải thích các quyền và nghĩa vụ cho bị can”. Trên thực tế, hầu hết các bị can, nhất là bị can đang bị tạm giam (kể cả các trường hợp bị can theo quy định tại khoản  Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự) đều không đ­ược điều tra viên giải thích hoặc giải thích không đầy đủ về quyền được nhờ ng­ười khác bào chữa, quyền đư­ợc cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn luật sư chỉ định Văn phòng luật sư cử ngư­ời bào chữa cho mình. Cho nên, trong thời gian chư­a kết thúc điều tra vụ án, hầu hết các bị can đang bị tạm giam đều không nhờ ng­ười khác bào chữa cho mình thông qua cơ quan điều tra hay được cơ quan điều tra yêu cầu Văn phòng luật sư cử người bào chữa, mặc dù họ đang có nhu cầu này (nếu họ có ng­ười bào chữa là do ngư­ời khác mời).

Đối với tr­ường hợp ng­ười đại diện hợp pháp của bị can đang bị tạm giam mời ngư­ời bào chữa: Hiện nay, do ch­ưa có quy định thống nhất về trình tự, thủ tục này, cũng nh­ư cơ quan điều tra không muốn ng­ười bào chữa tham gia tố tụng khi vụ án chưa kết thúc điều tra, nên việc mời ng­ười bào chữa cho bị can phải thông qua nhiều công đoạn với những thủ tục phức tạp. Tr­ước hết, họ phải có đơn mời người bào chữa cho bị can (đơn phải đ­ược cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận về nhân thân pháp lý của họ). Đơn này phải nộp cho cơ quan điều tra để lấy chữ ký của bị can đang bị tạm giam trong việc chấp nhận ngư­ời bào chữa (chỉ khi có chữ ký của bị can, đơn mới hợp lệ). Khi có đủ các điều kiện này, luật sư­ mới “đủ t­ư cách” đến cơ quan điều tra đăng ký bào chữa cho bị can.

Mặc dù đã có các thủ tục cần thiết, như­ng đối với các tr­ường hợp đăng ký bào chữa cho bị can trong thời gian điều tra vụ án đều bị cơ quan điều tra tìm cách từ chối khéo việc chấp nhận ng­ười bào chữa. Còn nếu đư­ợc chấp nhận tham gia bào chữa từ giai đoạn này, họ cũng khó có cơ may thực hiện được đầy đủ trách nhiệm bào chữa của mình vì: Việc tham dự của người bào chữa trong các buổi điều tra viên lấy lời khai bị can gặp nhiều khó khăn.

Mặc dù, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đã quy định ng­ười bào chữa có quyền tham gia bào chữa cho bị can, như­ng hầu hết các điều tra viên không muốn có ng­ười bào chữa tham gia tố tụng ở giai đoạn này. Vì theo họ, sự có mặt của người bào chữa sẽ gây khó khăn, phức tạp trong việc lấy lời khai bị can, thậm chí còn gây trở ngại cho công việc của họ. Cho nên các điều tra viên đều không muốn người bào chữa biết thời gian họ lấy lời khai bị can và các hoạt động tố tụng liên quan. Vì thế, ngư­ời bào chữa thư­ờng phải “đứng ngoài cuộc” trong các hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra. Nếu tr­ường hợp đ­ược tiếp xúc với bị can, thì do pháp luật không quy định và h­ướng dẫn cụ thể tr­ường hợp nào ngư­ời bào chữa đ­ược gặp riêng bị can, trư­ờng hợp nào việc gặp bị can phải có sự giám sát của người tiến hành tố tụng, giám thị trại giam... Vì thế, mọi tr­ường hợp người bào chữa tiếp xúc với bị can đều có điều tra viên hoặc giám thị ngồi bên cạnh, nên nếu dù họ bị bức cung hoặc dùng nhục hình cũng khó có thể trình bày với ng­ười bào chữa.

Chức năng bào chữa là một chức năng quan trọng trong quá trình tố tụng, đây là trách nhiệm nghề nghiệp đồng thời cũng là nghĩa vụ của luật sư­ trư­ớc bị can, bị cáo. Tuy nhiên trong Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật hiện hành ch­ưa xác định rõ t­ư cách tố tụng của luật sư­ bào chữa trong tranh tụng và nghĩa vụ pháp lý của họ tr­ước bị can, bị cáo; các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, năng lực và sức khỏe đối với những ng­ười hành nghề luật sư cũng chư­a đ­ược quy định chặt chẽ. Điều đó làm hạn chế đến khả năng thực hiện chức năng và nghĩa vụ của luật sư trong quá trình tranh tụng.

- Về giới hạn xét xử của Tòa án: Tại phiên tòa phán quyết của Tòa án phải dựa trên việc xem xét đánh giá những chứng cứ đư­ợc đ­ưa ra và tranh luận giữa các bên. Thế như­ng khi qua thẩm tra và đánh giá chứng cứ nếu xét thấy bị cáo phạm tội khác nặng hơn thì Hội đồng xét xử cũng không có quyền ra phán quyết về tội nặng hơn đó theo quy định tại Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự: “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố... Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố” . Trong trường hợp này, Hội đồng xét xử chỉ có thể căn cứ vào Điều 280  Bộ luật Tố tụng hình sự trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung. Như­ vậy, thủ tục này phải qua những khâu tố tụng lòng vòng mới giải quyết đ­ược vụ án và như­ vậy tranh tụng tại phiên tòa cũng không hoàn toàn tạo ra đư­ợc phán quyết cuối cùng của Tòa án, rõ ràng là tranh tụng tại phiên tòa chư­a phải là căn cứ có tính quyết định với phán quyết của Tòa án.

- Viện kiểm sát là cơ quan đại diện cho Nhà n­ước thực hành quyền công tố, nói một cách khác Viện kiểm sát là bên buộc tội thế như­ng Viện kiểm sát lại kiêm luôn cả chức năng kiểm sát việc xét xử như­ vậy rõ ràng là không thể khách quan. Cần phải xác định Viện kiểm sát chỉ thực hành quyền công tố vì như­ vậy mới tránh tình trạng vừa đá bóng v­à thổi còi, đồng thời Viện kiểm sát sẽ chuyên sâu hơn về nhiệm vụ của mình. Trong khi đó hiện tại chức năng kiểm sát xét xử của Viện kiểm sát cũng không phát huy được tác dụng.

- Trong tất cả những nguyên nhân dẫn đến việc tranh tụng tại phiên tòa không đúng với tinh thần tranh tụng nổi lên một nguyên nhân cơ bản đó là yếu tố con người.

 Những sai lầm trong việc xét xử oan sai, là một sai lầm nghiêm trọng và tại phiên tòa nó được thực hiện bởi Hội đồng xét xử và KSV. Hiện nay còn có những trường hợp mà năng lực, phẩm chất của thẩm phán, KSV, Hội thẩm nhân dân không đạt yêu cầu. Trong đó vấn đề cơ bản nhất là ý thức trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và nghề nghiệp của một số người tiến hành tố tụng chư­a cao, một số khác thì sa sút về phẩm chất đạo đức, không chịu rèn luyện bản lĩnh chính trị và nghề nghiệp. Trong quá trình xét xử, chất l­ượng phụ thuộc rất nhiều vào vai trò điều khiển của thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, vai trò chủ động xét hỏi tranh luận của luật sư. Do đó đòi hỏi họ phải vừa là người có cái tâm trong sáng đồng thời vừa là người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng. Nghị quyết 08/NQ-TW và Nghị quyết 49 về chiến lược cải cách tư pháp của Bộ Chính trị đã có như­ng tinh thần của nó về tranh tụng không phải là đã được toàn bộ thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, KSV quán triệt.

Bên cạnh đó, năng lực của thẩm phán, KSV cũng có vai trò rất lớn đến chất lượng của quá trình tranh tụng tại phiên tòa, được thể hiện ở hai khía cạnh là trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm khi tham gia phiên tòa, đối với thẩm phán là kỹ năng điều khiển phiên tòa và KSV là kỹ năng tranh tụng. Trong đó trình độ có vai trò rất lớn vì chủ yếu các tr­ường hợp án sửa, huỷ là do việc nắm và vận dụng pháp luật của thẩm phán và KSV.

Kinh nghiệm cũng có vai trò rất quan trọng bởi thực tiễn và lý thuyết rất khác xa nhau, có những trường hợp do kinh nghiệm xét xử chưa nhiều nên khi gặp những tình huống phức tạp thì ngay lập tức đưa hoạt động xét xử tại phiên tòa vào đúng quỹ đạo là rất khó khăn. Đối với KSV ngoài việc nắm vững những chi tiết của vụ án, việc nắm được những quy định của pháp luật thì kỹ năng tranh tụng cũng đóng vai trò quan trọng bởi đôi khi những điều nắm được ấy phải thể hiện ra bằng sự diễn thuyết và đối đáp ngay lập tức với luật sư. Và để kỹ năng được nhuần nhuyễn trở thành khả năng hùng biện thì họ cũng cần phải có sự trải nghiệm nhiều lần qua các phiên tòa.

Chất lư­­ợng KSV, thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phụ thuộc rất nhiều vào việc họ tự học tập nâng cao trình độ, như­ng còn có những người không chịu học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, vì vậy có những sai sót trong công tác.

Đội ngũ luật sư thiếu về số lư­ợng và hạn chế về chất l­ượng. Mặt khác, luật sư tham gia bào chữa còn nặng về khai thác các tình tiết gỡ tội, giảm nhẹ nên các bài bào chữa của họ cũng ít quan tâm tới việc làm rõ các tình tiết của vụ án một cách đầy đủ, toàn diện; thậm chí có những luật sư có việc làm không trong sáng, làm lộ bí mật điều tra hòng chạy tội cho bị can, bị cáo. Chính những biểu hiện, việc làm của luật sư­ đã tự cản trở việc thực hiện quy định ngư­ời bào chữa tham gia tố tụng kể từ khi khởi tố vụ án và tiếng nói của luật sư bào chữa trong một vài vụ án ch­ưa đư­ợc ng­ười dân đồng tình, coi trọng. Mặt khác chi phí cho luật sư bào chữa cao, trong khi đó bị can bị cáo hoàn cảnh khó khăn không có điều kiện thuê luật sư bào chữa. Việc có luật sư trợ giúp pháp lý nhiều khi chỉ luật sư bào chữa chỉ mang tích hình thức nên chất lượng tham gia tranh tụng thấp.

Tổ chức bộ máy của các cơ quan bổ trợ tư pháp không đủ lớn mạnh, không đúng tầm với nhiệm vụ, nên đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực đó còn thiếu, trình độ của nhiều người còn hạn chế không đảm bảo hoàn thành được một cách tốt nhất nhiệm vụ đư­ợc giao.

Chế độ chính sách đối với cán bộ tư pháp nói chung và cán bộ ngành Tòa án nói riêng còn quá hạn chế. Nhìn chung các cán bộ Tòa án và thẩm phán ở các nư­ớc phát triển luôn có chế độ lư­ơng cao hơn so với các công chức khác trong cơ quan nhà nước. Trong khi đó, ở Việt Nam khi được bổ nhiệm thẩm phán sơ cấp thì mức lương của thẩm phán không thay đổi so với làm thư ký hoặc thẩm tra viên.

Có một nguyên nhân cũng không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến quá trình tranh tụng tại phiên tòa, đảm bảo tính trang nghiêm của Tòa án là cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngành Tòa án phần lớn đã xuống cấp, lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu của công tác xét xử trong tình hình mới. Trong khi số l­ượng án hàng năm phải giải quyết rất lớn thì trụ sở làm việc của các tòa án lại quá chật hẹp, xuống cấp, thậm chí còn phải đi thuê. Tòa án th­ường đ­ược coi là biểu t­ượng công lý, biểu t­ượng của pháp luật như­ng có Tòa án phải thuê trụ sở làm việc, xét xử ở những khuôn viên không đảm bảo uy nghiêm. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, liên quan đến thực hiện nguyên tắc tranh tụng được bảo đảm bình đẳng giữa bên buộc tội và gỡ tội, tuy nhiên vị trí ngồi của kiểm sát viên và luật sư hiện nay vẫn thể hiện sự bất bình đẳng giữa bên buộc tội và gỡ tội. Tại thông tư liên tịch số 01/2017/TT -TANDTC ngày 28/7/2017 quy định về phòng xử án trong đó có phòng xử án hình sự, thể hiện vị trí ngồi của đại diện VKSND và người bào chữa ngang nhau, tuy nhiên cho đến nay còn nhiều các trụ sở tòa án chưa được đầu tư kinh phí để thực hiện mô hình phòng xử án theo tinh thần của thông tư.

Ngoài ra, những quy định về bảo đảm chất lượng tranh tụng tại phiên tòa làm căn cứ cho việc ra bản án của tòa án còn chưa cụ thể nên dẫn đến việc tranh tụng còn mang tính hình thức chưa đáp ứng được tinh thần Nghị quyết số 08 và Nghị quyết số 49 về chiến lược cải cải cách tư pháp. Chẳng hạn: 1) Để bảo đảm cho việc tranh tụng tại phiên tòa thì những người có liên quan phải có mặt tại phiên tòa, nhưng thẩm quyền triệu tập những người này chỉ có thẩm phán mà không quy định cho đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa... có quyền đề nghị triệu tập người cần xét hỏi đến phiên tòa nên không bảo đảm tranh luận dân chủ (Điều 183). Mặc dù, tại Điều 205 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015 phần thủ tục bắt đầu phiên tòa có quy định “ Chủ tọa hỏi luật sư và những người tham gia tố tụng xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay không... ”  đa số những người tham gia tố tụng họ chưa biết quyền này trước khi xét xử nên tại phiên tòa chủ tọa mới hỏi thì họ mới biết và có yêu cầu dẫn đến trong trường hợp họ yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, xét việc triệu tập người làm chứng đó là cần thiết dẫn đến phiên tòa phải hoãn, nên trong quyết định đưa vụ án ra xét xử cần ghi rõ cho những người tham gia tố tụng biết quyền này...; 2) Quy định hiện hành chưa bắt buộc người bào chữa phải có mặt tại phiên tòa khi họ đã được cấp giấy chứng nhận quyền bào chữa cho bị cáo (Điều 190 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003) và tại Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, dẫn đến không ít phiên tòa vắng mặt người bào chữa, Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử, ảnh hưởng đến đối đáp, tranh luận. Trong khi đó đối với trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa, Bộ luật quy định nếu người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa nhưng không quy định lý do vắng mặt nên thực tiễn nhiều người bào chữa lợi dụng quy định này để cố tình vắng mặt, làm cho vụ án bị kéo dài; 3) Chưa có chế tài đối với người giám định được triệu tập cố tình không tham gia phiên tòa đã ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án mà không có lý do chính đáng (Điều 193 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003) [33]; Điều 294 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; 4) Thủ tục tố tụng tại phiên tòa chưa được thể hiện đầy đủ yêu cầu tranh tụng theo tinh thần cải cách tư pháp. Mặc dù, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đã quy định nguyên tắc “ tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” , nhưng tại Điều 307 Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn quy định trình tự hỏi: Chủ tọa phiên tòa hỏi trước, sau đó quyết định để thẩm phán, Hội thẩm nhân dân... làm cho luật sư tham gia phiên tòa không chủ động tiến hành xét hỏi để bảo vệ cáo trạng; 5) Theo quy định của Bộ luật thì trách nhiệm của thẩm phán chủ tọa phiên tòa rất nặng nề, vừa phải điều khiển phiên tòa, vừa xét hỏi chứng minh tội phạm, vừa phán xét tính đúng, sai của sự thật vụ án và áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, Điều 185 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Điều 254 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm 01 thẩm phán và 02 Hội thẩm nhân dân là chưa phù hợp với thực tế vì năng lực và trình độ chuyên môn, kinh nghiệm xét xử của Hội thẩm nhân dân còn hạn chế. Trong khi đó quy định biểu quyết theo đa số đã phát sinh nhiều bất cập trong thực tiễn, nhiều trường hợp bên Hội thẩm biểu quyết lấn át bên thẩm phán chuyên nghiệp, dẫn đến sai lầm trong việc ra phán quyết…

Vì vậy, việc hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự, cũng như các văn bản pháp luậtTTHS khác là đòi hỏi cấp thiết trong việc bảo đảm và nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa trong hoạt động xét xử vụ án hình sự.

2.      Một vài đề xuất

Để nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, bên cạnh việc ghi nhận nguyên tắc “bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa” cần hoàn thiện, bổ sung những quy định khác nhằm cụ thể hoá những quy định về tranh tụng tại phiên tòa, tạo ra cơ chế thích hợp và hiệu quả cho quá trình tranh tụng trong xét xử, đó là:

- Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nên chỉ giữ vai trò là trọng tài điều khiển tranh tụng tại phiên tòa giữa đại diện Viện Kiểm sát với luật sư và bị cáo, các bên tranh tụng thực hiện trách nhiệm chứng minh và tiến hành xét hỏi là chủ yếu. Tòa án thực hiện việc giám sát, duy trì trình tự xét hỏi và có quyền tham gia vào quá trình xét hỏi ở bất kỳ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết chưa được các bên làm rõ trong quá trình xét hỏi. Vì vậy, trong các điều luật về xét hỏi cần quy định: Khi xét hỏi luật sư hỏi trước sau đó đến người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Các thành viên Hội đồng xét xử có thể hỏi ở bất kỳ thời điểm nào về các tình tiết của vụ án chưa được các bên tranh tranh tụng làm sáng tỏ trong quá trình xét hỏi.

- Cần loại bỏ những trách nhiệm, nghĩa vụ tố tụng không thuộc chức năng xét xử của tòa án để bảo đảm chất lượng tranh tụng trong xét xử. Đó là:

Thứ nhất, nguyên tắc trách nhiệm khởi tố vụ án và xử lý vụ án hình sự (Điều 18 BLTTHS 2015). Nguyên tắc này quy định trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Tuy nhiên, theo tinh thần Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp thì phải “xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp”; và tranh tụng tại phiên tòa phải được coi là khâu đột phá. Với định hướng này cần cân nhắc có nên giao trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự cho tòa án hay không. Nếu phải thực thi trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự liệu có ảnh hưởng đến chức năng xét xử của Tòa án và có lấn sân sang chức năng công tố không. Vì vậy, theo chúng tôi không nên quy định thẩm quyền khởi tố vụ án cho tòa án, trong trường hợp phát hiện tội phạm mới khi xét xử tại phiên tòa, Tòa án có thể kiến nghị để Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố.

Thứ hai, nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án” (Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015). Nguyên tắc này quy định “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Theo quy định này thì trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Theo chúng tôi, với định hướng phân định rõ chức năng, thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng như Nghị quyết số 49 Bộ Chính trị đã nêu thì nên bỏ trách nhiệm chứng minh tội phạm của Tòa án do trách nhiệm này thuộc chức năng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Mặt khác, việc phải chứng minh tội phạm sẽ ảnh hưởng tới tính khách quan của Tòa án khi ra bản án và quyết của mình, đồng thời thêm chức “trọng tài anh minh”, “người cầm cân nảy mực” của Tòa án dễ bị hiểu sai lệch. Vì vậy, nguyên tắc này cũng nên sửa đổi theo hướng tòa án không có trách nhiệm chứng minh tội phạm.

- Quyền bào chữa của bị can, bị cáo đã có nhiều đổi mới trong Luật TTHS 2015 hiện hành nhằm đáp ứng được yêu cầu bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội theo hướng bảo đảm hơn nữa quyền bình đẳng của luật sư trước và trong phiên tòa để họ có thể tranh tụng dân chủ, bình đẳng với bên buộc tội. Tuy nhiên,  Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành chưa chú ý xây dựng các quy định tạo ra các cơ chế, điều kiện để thực hiện quyền bình đẳng ấy, ví dụ : Quyền được thu thập, xuất trình chứng cứ; Quyền đề xuất nhân chứng cần triệu tập đến phiên tòa; Quyền hỏi nhân chứng, bác bỏ nhân chứng do phía buộc tội đưa ra; Quyền tranh luận, đối đáp bình đẳng với bên buộc tội, quyền của bị can, bị cáo hoặc người bị tình nghi là phạm tội khi bị bắt giữ phải được thông báo về các quyền và lợi ích liên quan.

- Thực tế cho thấy, quyền nhờ người khác bào chữa cho bị can vẫn chưa được cơ quan tiến hành tố tụng thật sự tôn trọng, nhất là đối với cơ quan điều tra. Thậm chí ở một số nơi, việc thực hiện quyền này vẫn đang là sự thách đố đối với bị can, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa. Đặc biệt là đối với bị can đang bị tạm giam, bởi các lý do chủ yếu sau: Theo quy định của Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: “trước khi hỏi cung, điều tra viên phải giải thích các quyền và nghĩa vụ cho bị can” . Trên thực tế, hầu hết các bị can, nhất là bị can đang bị tạm giam (kể cả các trường hợp bị can theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự) đều không được điều tra viên giải thích hoặc giải thích không đầy đủ về quyền được nhờ người khác bào chữa, quyền được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn Luật sư chỉ định Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho mình. Cho nên, trong thời gian chưa kết thúc điều tra vụ án, hầu hết các bị can đang bị tạm giam đều không nhờ người khác bào chữa cho mình thông qua cơ quan điều tra hay được cơ quan điều tra yêu cầu Văn phòng luật sư cử người bào chữa, mặc dù họ đang có nhu cầu này (nếu họ có người bào chữa là do người khác mời). Vì vậy, để khắc phục tình trạng này trong mẫu giấy về quyết định tạm giữ, khởi tố bị can, nên in sẵn thông báo cho người bị tạm giữ, bị can biết quyền đó.

Đối với trường hợp người đại diện hợp pháp của bị can đang bị tạm giam mời người bào chữa: Hiện nay, do chưa có quy định thống nhất về trình tự, thủ tục này, cũng như cơ quan điều tra không muốn người bào chữa tham gia tố tụng khi vụ án chưa kết thúc điều tra, nên việc mời người bào chữa cho bị can phải thông qua nhiều công đoạn với những thủ tục phức tạp. Trước hết, họ phải có đơn mời người bào chữa cho bị can (đơn phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận về nhân thân pháp lý của họ). Đơn này phải nộp cho cơ quan điều tra để lấy chữ ký của bị can đang bị tạm giam trong việc chấp nhận người bào chữa (chỉ khi có chữ ký của bị can, đơn mới hợp lệ). Khi có đủ các điều kiện này, luật sư mới “đủ tư cách” đến cơ quan điều tra đăng ký bào chữa cho bị can. Để khắc phục tình trạng này trong thủ tục mời người bào chữa chỉ cần có đơn có chữ ký của bị cáo là hợp lệ còn ai mời cho bị cáo cũng không quan trọng.

Mặc dù đã có các thủ tục cần thiết, nhưng đối với các trường hợp đăng ký bào chữa cho bị can trong thời gian điều tra vụ án đều bị cơ quan điều tra tìm cách từ chối khéo việc chấp nhận người bào chữa. Còn nếu được chấp nhận tham gia bào chữa từ giai đoạn này, họ cũng khó có cơ may thực hiện được đầy đủ trách nhiệm bào chữa của mình vì: Việc tham dự các buổi lấy lời khai bị can của điều tra viên đối với người bào chữa bị gặp nhiều khó khăn. Mặc dù, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đã quy định người bào chữa có quyền tham gia bào chữa cho bị can, nhưng hầu hết các điều tra viên không muốn có người bào chữa tham gia tố tụng ở giai đoạn này. Vì theo họ, sự có mặt của người bào chữa sẽ gây khó khăn, phức tạp trong việc lấy lời khai bị can, thậm chí còn gây trở ngại cho công việc của họ. Cho nên các điều tra viên đều không muốn người bào chữa biết thời gian họ lấy lời khai bị can và các hoạt động tố tụng liên quan. Vì thế, người bào chữa thường phải “đứng ngoài cuộc” trong các hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra. Nếu trường hợp được tiếp xúc với bị can, thì do pháp luật không quy định và hướng dẫn cụ thể trường hợp nào người bào chữa được gặp riêng bị can, trường hợp nào việc gặp bị can phải có sự giám sát của người tiến hành tố tụng, giám thị trại giam... Vì thế, mọi trường hợp người bào chữa tiếp xúc với bị can đều có điều tra viên hoặc giám thị ngồi bên cạnh, nên nếu dù họ bị bức cung hoặc dùng nhục hình thì vì thân phận và địa vị pháp lý của họ mà không dám thổ lộ với người bào chữa. Vì vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự cần có quy định rõ những trường hợp luật sư được tiếp xúc riêng với bị can mà không có sự giám sát của giám thị trại giam hoặc của điều tra viên.

- Chức năng bào chữa là một chức năng quan trọng trong quá trình tố tụng, đây là trách nhiệm nghề nghiệp đồng thời cũng là nghĩa vụ của luật sư trước bị can, bị cáo. Tuy nhiên trong Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật hiện hành chưa xác định rõ tư cách tố tụng của luật sư bào chữa trong tranh tụng và nghĩa vụ pháp lý của luật sư trước bị can, bị cáo; các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, năng lực và sức khỏe đối với những người hành nghề luật sư cũng chưa được quy định chặt chẽ. Điều đó làm hạn chế đến khả năng thực hiện chức năng và nghĩa vụ của luật sư trong quá trình tranh tụng. Cần thiết phải quy định rõ luật sư, bị cáo là một bên tranh tụng bình đẳng trong suốt quá trình xét xử.

Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trong mọi trường hợp đại diện VKS vắng mặt phải hoãn phiên tòa trong khi đó người bào chữa hoặc bị cáo và các chủ thể khác vắng mặt thì vẫn có thể tiến hành xét xử vụ án. Chúng tôi cho rằng quy định như vậy là chưa đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng, tuy tiện lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng sẽ không bảo đảm được các quyền lợi của công dân đặc biệt là của bị cáo.Sự vắng mặt của luật sư và của bị cáo ở phiên tòa sẽ làm cho quá trình tranh tụng mất đi ý nghĩa của nó bởi thiếu một bên tham gia và một chức năng quan trọng là bào chữa không được thực hiện. Vì vậy cần bổ sung: trong những trường hợp luật sư vắng mặt vì trường hợp bất khả kháng ví dụ như tai nạn, bị bệnh... thì Tòa án phải hoãn phiên tòa.Trong trường hợp đó bị cáo có thể mời luật sư khác. Nếu Tòa án đã hoãn phiên tòa theo thời hạn luật định mà luật sư vẫn không thể có mặt được và bị cáo không mời luật sư khác thì Tòa án sẽ vẫn tiến hành xét xử.

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác cần quy định rõ trách nhiệm pháp lý của luật sư bào chữa trước bị can, bị cáo trong những trường hợp luật sư không làm tròn nghĩa vụ và chức năng nghề nghiệp của mình là bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Trách nhiệm đó phải là trách nhiệm vật chất dân sự: như phải hoàn trả lại cho thân chủ tiền thù lao đã nhận và bị phạt một khoản tiền nào đó hoặc là trách nhiệm kỷ luật - hành chính trước tổ chức đoàn luật sư (phê bình, cảnh cáo, tạm đình chỉ hành nghề có thời hạn...) thậm chí cả trách nhiệm hình sự nếu để xảy ra hậu quả nghiêm trọng ví dụ như bị cáo bị xử phạt oan, bị can bị bắt giam trái pháp luật mà luật sư không can thiệp bảo vệ kịp thời dẫn đến bị can tự tử hoặc bị dùng nhục hình dẫn đến chết người..) với hình phạt bổ sung cấm hành nghề luật sư. Cũng cần xác định rõ thời điểm bắt đầu và kết thúc nghĩa vụ của luật sư đối với bị can, bị cáo (Ví dụ từ thời điểm luật sư nhận làm người bào chữa cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật). Để nâng cao chất lượng của đội ngũ luật sư hiện nay cần quy định rõ tiêu chuẩn chuyên môn của người hành nghề luật sư phải có bằng cử nhân luật, có thời gian làm thực tiễn từ 4 đến 6 năm trở lên, tuổi đời cũng cần giới hạn không quá 65 tuổi và phải qua sát hạch thi tuyển trước khi cấp giấy phép hành nghề luật sư. Được như vậy thì trình độ của luật sư mới được nâng lên, đảm bảo hoàn thành được một cách tốt nhất nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị cáo.

Kết luận

Tranh tụng trong quá trình xét xử tại phiên tòa có vai trò quan trọng, nó không chỉ đánh giá một cách công khai, dân chủ các giai đoạn trước đó là điều tra, truy tố mà nó còn có ý nghĩa rất trọng trong giai đoạn xét xử, là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các chủ thể tham gia tố tụng khác, Bản án quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết tranh tụng tại phiên tòa có như vậy mới đảm bảo các bản án và quyết định của Tòa án được minh bạch đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không kết án oan người vô tội, hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đáp ứng với yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp đặt ra hiện nay. Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa, phát huy tối đa các mặt tích cực của nó thì cần phải nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện cả về góc độ lý luận cũng như thực tiễn áp dụng tranh tụng tại phiên tòa. Hiến pháp 2013, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, lấy chủ quyền quốc gia và quyền con người làm dòng chảy chủ đạo, các đạo luật khác đã được ban hành để thực thi Hiến pháp, trong đó có lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn đang đòi hỏi khoa học pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện và đó chính là trách nhiệm của mọi người, mà trước hết là những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực Tư pháp./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.

2.      Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.

3.      Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.

4.      Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5.      Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015),  Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hà Nội.

6.      Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Bộ luật Hình sự năm 2015, Hà Nội.

7.      Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23/11 quy định về công tác phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và Công tác thi hành án năm 2013, Hà Nội.

8.      Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp năm 2013, Hà Nội.

9. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Hà Nội.