Luật sư Nguyễn Thanh Hà- Chủ tịch Công ty Luật SB LAW trả lời phỏng vấn trong Chương trình Bạn và pháp luật về Dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi): Hướng tới lành mạnh hóa thị trường. Dưới đây là nội dung chi tiết bài phỏng vấn.

Câu 1: Tại Hội thảo Lấy ý kiến cho dự thảo hoàn thiện Luật Cạnh tranh (sửa đổi) do Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam và Bộ Công Thương tổ chức vừa rồi thì đa số các đại biểu đều tán thành việc cần thiết phải ban hành Luật cạnh tranh sửa đổi. Quan điểm của Luật sư thì sao? Theo ông, Luật cạnh tranh hiện hành đang tồn tại những bất cập gì?

Luật sư trả lời:

Luật Cạnh tranh năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2005) đã thiết lập nền tảng pháp lý đầu tiên cho môi trường cạnh tranh ở Việt Nam, Luật Cạnh tranh ra đời nhằm đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các chủ thể, cũng như hạn chế, ngăn chặn, xử lý các hành vi gây thiệt hại doanh nghiệp. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm áp dụng Luật Cạnh tranh đang bộc lộ rõ những điểm bất cập không phù hợp với thực tiễn hiện nay, cụ thể:

Thứ nhất, một số quy định trong Luật Cạnh tranh hiện hành không còn phù hợp với bối cảnh và xu hướng phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu, rộng với khu vực và thế giới. Nhiều hành vi phản cạnh tranh mới, đa dạng chưa

được điều chỉnh và dự liệu trong Luật Cạnh tranh hiện hành.

Thứ hai, trong quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh:

Hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế phụ thuộc nhiều vào yếu tố thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan. Trong khi đó, các yếu tố để xác định thị trường liên quan không phù hợp với thực tế và gây nhiều khó khăn trong quá trình thực thi.

Thứ ba, Luật Cạnh tranh còn chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa phát huy được sứ mệnh bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng.

Thứ tư, địa vị và mô hình cơ quan cạnh tranh chưa hợp lý, chưa củng cố được vị thế để phát huy vai trò đảm bảo môi trường kinh doanh công bằng cho mọi loại hình doanh nghiệp, chưa bảo đảm thực thi công bằng, khách quan Luật Cạnh tranh. Ngoài ra, nguồn nhân lực thực thi Luật Cạnh tranh còn hạn chế và yếu dẫn đến công tác phát hiện, điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh chưa kịp thời, hiệu quả.

Thiết nghĩ, Luật Cạnh tranh nên được sửa đổi để phù hợp với tình hình thực tế hơn.

Câu hỏi 2: Dù đã thực hiện hơn 10 năm nhưng theo Luật sư, người dân cũng như các doanh nghiệp đã hiểu đúng, hiểu đủ về Luật cạnh tranh hiện hành hay chưa? Vì sao?

Luật sư trả lời:

Luật Cạnh tranh ra đời hơn 10 năm nhưng không được áp dụng, thậm chí người dân, doanh nghiệp không biết để thực hiện.

Doanh nghiệp là đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh nhưng rất ít doanh nghiệp quan tâm và vận dụng các quy định của Luật Cạnh tranh 2004 để bảo vệ quyền lợi của mình. Đa số doanh nghiệp chưa hiểu biết về Luật Cạnh tranh, trên thực tế Luật Cạnh tranh chỉ áp dụng đối với những doanh nghiệp lớn. Các tiểu thương nhỏ vẫn chưa được bảo vệ quyền lợi theo Luật.

Thực tế, số vụ việc cạnh tranh được phát hiện, điều tra, xử lý còn hạn chế trong khi môi trường cạnh tranh tại Việt Nam tiềm ẩn nhiều dạng hành có tác động tiêu cực tới thị trường. Rất nhiều doanh nghiệp vi phạm Luật Cạnh tranh nhưng lại không áp dụng xử lý theo quy định của Luật Cạnh tranh mà lại áp dụng hình thức xử lý hành chính.

Sở dĩ có thực trạng này là do:

  • Tiếng nói, sức mạnh của các doanh nghiệp nhỏ không đủ sức để theo đuổi các vụ cạnh tranh.
  • Một mặt khác, doanh nghiệp không thấy rõ được quyền và nghĩa vụ của mình ở Luật Cạnh tranh.
  • Các quy định của Luật Cạnh tranh còn cứng nhắc, chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa phát huy được sứ mệnh bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh làm tiền đề cho sự phát triển của kinh tế đất nước.

Câu hỏi 3: Dự thảo Luật cạnh tranh mà Bộ Công thương đưa ra có những điểm mới gì nổi bật, thưa Luật sư?

Luật sư trả lời:

Dự thảo Luật Cạnh tranh mà Bộ Công Thương đưa ra có một số nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng so với Luật Cạnh tranh năm 2004:

Thứ nhất, Khoản 1 Điều 2 của Dự thảo Luật Cạnh tranh đã mở rộng phạm vi áp dụng với cả doanh nghiệp nước ngoài, hiểu theo nghĩa được thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài, đối tượng vốn chưa được quy định rõ ràng trong luật hiện hành. Lâu nay, quan điểm xử lý của cơ quan nhà nước đối với đối tượng này chưa nhất quán khiến doanh nghiệp nước ngoài quan ngại về việc có hay không có khả năng mình bị điều chỉnh bởi Luật Cạnh tranh của Việt Nam.

Thứ hai, đối với nhóm quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, dự thảo đã điều chỉnh cách tiếp cận trong việc kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh, gồm thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền theo hướng phù hợp với thực tiễn cạnh tranh trên thị trường và thông lệ quốc tế, nâng cao hiệu quả thực thi.

Cụ thể không tiếp cận kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ dựa vào tiêu chí thị phần như hiện nay, mà kiểm soát hành vi trên cơ sở bản chất, tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của hành vi.

Thứ ba, Dự thảo Luật Cạnh tranh cũng đã bổ sung thêm các công cụ định tính nhằm xác định khả năng chi phối của một doanh nghiệp đối với thị trường vì trên thực tế, tiêu chí thị phần chưa hẳn đã phản ánh đúng vị thế, sức mạnh của doanh nghiệp trên thị trường. Ở những thị trường có rào cản gia nhập và mở rộng thị trường thấp, doanh nghiệp có mức thị phần cao chưa hẳn đã có sức mạnh thị trường và ngược lại.

Theo đó, cơ quan nhà nước có thể đánh giá sức mạnh thị trường của một doanh nghiệp dựa trên tổng thể các yếu tố khác nhau gồm thị phần; cấu trúc thị trường và tương quan thị phần giữa các doanh nghiệp trên thị trường; năng lực công nghệ, cơ sở vật chất, …

Thứ tư, bổ sung quy định cấm tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi liên quan đến thoả thuận hạn chế cạnh tranh như: kêu gọi, dụ dỗ, ép buộc các doanh nghiệp tham gia vào thoả thuận hạn chế cạnh tranh; cung cấp thông tin nhằm hình thành các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Bổ sung quy định về khoan hồng đối với doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện, xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh.

Thứ năm, đối với nhóm quy định về kiểm soát tập trung kinh tế, so với Luật Cạnh tranh 2004, dự thảo đã thay đổi cách thức tiếp cận kiểm soát tập trung kinh tế theo hướng trao quyền cho cơ quan cạnh tranh trong việc đánh giá tác động cạnh tranh của việc tập trung kinh tế và tăng cường sự chủ động của doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan cạnh tranh và mở rộng các yếu tố đánh giá một vụ việc tập trung kinh tế.

Câu hỏi 4: Theo Luật sư, những điểm sửa đổi này đã thực sự giải quyết được những vấn đề còn tồn tại ở Luật cạnh tranh hiện hành chưa?

Luật sư trả lời:

Dự thảo Luật Cạnh tranh sửa đổi đã có nhiều quy định mới nhằm giải quyết những vấn đề còn tồn tại, hạn chế của Luật Cạnh tranh năm 2004, góp phần giảm thiểu các hình thức và hành vi hạn chế cạnh tranh trong cả khu vực tư nhân và khu vực công, tạo cơ hội thúc đẩy sáng tạo, đổi mới và tăng trưởng, đồng thời tạo sự ổn định và công bằng cho môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư.

Tuy nhiên, Dự thảo này vẫn chưa thực sự giải quyết được hết các vấn đề còn tồn tại ở Luật Cạnh tranh hiện hành:

  • Doanh nghiệp là đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh, tuy nhiên cả Luật Cạnh tranh 2004 và Dự thảo lần này không có điều khoản nào quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nói chung, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
  • Dự thảo Luật Cạnh tranh sửa đổi phạm vi điều chỉnh rộng hơn so với Luật Cạnh tranh hiện hành và việc xem xét cả các yếu tố định tính đối với một hành vi thì doanh nghiệp và ngay cả cơ quan nhà nước đều có thể gặp khó khăn trong quá trình thực thi quy định mới (nếu được thông qua). Chẳng hạn là việc đánh giá “tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường” theo Điều 24, dự thảo Luật Cạnh tranh sửa đổi. Bởi lẽ, việc đánh giá có thể mang tính chủ quan dựa trên mức độ tác động hạn chế cạnh tranh hay mức độ tác động thúc đẩy cạnh tranh, gây tranh cãi giữa các bên. Chính vì vậy, tính ứng dụng của điều khoản mới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào các hướng dẫn chi tiết của Chính phủ tại nghị định khi triển khai thực hiện Luật Cạnh tranh sửa đổi.
  • Trong dự thảo sửa đổi, tại điều 57: Luật sư của bên khiếu nại điều tra chưa xác định được vai trò, chưa có sự phân công cụ thể vai trò của người luật sư.
  • Ngoài ra, điều 91 và điều 92 (Hiệu lực của quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; Khởi kiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh) còn mâu thuẫn.

Câu hỏi 5: Vừa rồi là một số thông tin về liên quan đến việc cạnh tranh trên lĩnh vực thương mại điện tử. Luật sư nghĩ sao về vấn đề này?

Luật sư trả lời:

Thương mại điện tử gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tuyến tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng.

Lĩnh vực thương mại điện tử phát triển với tốc độ nhanh trên thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn rào cản để thương mại điện tử phát triển bền vững đó là lòng tin của người tiêu dùng vào chất lượng, hàng hóa, dịch vụ khi họ mua sắm trực tuyến và tính bảo mật khi thanh toán trên mạng.

Trên thực tế thương mại điện tử vẫn chưa có được niềm tin của người tiêu dùng, hoạt động mua bán trực tuyến thời gian qua đã thường xuyên xảy ra các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, tranh chấp với các nguyên nhân chủ yếu là do hình ảnh sản phẩm bên ngoài không giống như quảng cáo, giao hàng không đúng hẹn, không có hóa đơn, … Mặc dù nhu cầu của người tiêu dùng với mua bán trực tuyến rất đơn giản như: về thông tin phải chính xác, được đổi trả hàng nếu không đúng yêu cầu, thời gian giao hàng linh hoạt, miễn phí giao hàng cho một số đơn hàng nhất định… nhưng vẫn chưa được đáp ứng.

Thiết nghĩ, để thương mại điện tử phát triển bền vững, các doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược kinh doanh coi người tiêu dùng là trung tâm, phải biết họ cần gì, cách thức họ mua sắm thế nào, luôn lắng nghe phản hồi của họ để nâng cao chất lượng phục vụ. Về phía cơ quan Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền cần nỗ lực để thương mại điện tử ngày càng minh bạch hơn.

Hiện nay, nếu có tình trạng kinh doanh cạnh tranh không lành mạnh, các doanh nghiệp và người tiêu dùng có thể khiếu nại lên Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin để được hỗ trợ xử lý.

Câu 6: Một bạn thính giả gọi điện đến cho chương trình hỏi: Hiện mẹ em đang làm chủ cửa hàng đồ chơi ở TP.HCM, thời gian bán cũng đã lâu rồi. Mới đây thì có 1 tiệm đồ chơi khác chuyển về, từ khi tiệm đó về thì liên tục muốn cạnh tranh với cửa hàng nhà em bằng mọi hình thức như: câu kéo khách hàng, mời qua mời lại giành giật khách, còn gây sự, xô xát nhiều lần nữa. Ba mẹ em thì già rồi nên luật không rành lắm. Xin luật sư tư vấn cho em hỏi bây giờ gia đình em phải làm gì?

Luật sư tư vấn: 

Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 có quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh như sau:

“4. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”.

Hành vi của cửa hàng kia là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Điều 39 Luật Cạnh tranh quy định:

“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong Luật này bao gồm:

1.      Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

2.      Xâm phạm bí mật kinh doanh;

3.      ép buộc trong kinh doanh;

4.      Gièm pha doanh nghiệp khác;

5.      Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;

6.      Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; …”.

Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác là việc một doanh nghiệp có hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đối thủ.

Như vậy, cửa hàng kia đang thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà cụ thể là có hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đối thủ mà doanh nghiệp đối thủ ở đây là cửa hàng của gia đình bạn.

Thẩm quyền xử lý: Căn cứ vào Điểm d Khoản 2 Điều 49 Luật Cạnh tranh và Điều 40 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP thì thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc về Cơ quan quản lí cạnh tranh.

Hình thức xử lý được quy định tại Nghị định số 71/2014/NĐ-CP cụ thể với hành vi trên như sau:

“Điều 32. Hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác

1.      Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi gây rối hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.

2.      Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp sau:

a) Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác làm cho doanh nghiệp bị gây rối không thể tiếp tục tiến hành hoạt động kinh doanh một cách bình thường;

b) Hành vi vi phạm được thực hiện trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.

3. Ngoài việc bị phạt tiền theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Khoản 4 Điều 28 của Nghị định này”.

Câu hỏi 7: Thính giả ở số điện thoại có đuôi 397 gọi điện đến chương trình có hỏi: Hành vi quảng cáo hàng hóa, dịch vụ có nội dung so sánh trực tiếp với sản phẩm cùng loại có được gọi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh không? Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi như thế nào?

Luật sư trả lời:

Thứ nhất, Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004 có quy định liên quan đến quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh như sau:

Cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động quảng cáo sau đây:

1.      So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác;

2.      Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng; …”.

Điều 39 Luật Cạnh tranh quy định hành vi cạnh tranh không lành mạnh gồm:

“1. Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

2.      Xâm phạm bí mật kinh doanh;

3.      ép buộc trong kinh doanh;

4.      Gièm pha doanh nghiệp khác;

5.      Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;

6.      Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; …”.

=> Do đó, hành vi quảng cáo hàng hóa, dịch vụ có nội dung so sánh trực tiếp với sản phẩm cùng loại là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Thứ hai, Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 có quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh như sau:

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.

Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cụ thể được quy định tại Điều 39 Luật Cạnh tranh.

Câu 8: Thính giả ở địa chỉ email gửi thư về cho chương trình hỏi những thỏa thuận nào bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và các hành vi này bị xử lý như thế nào?

Luật sư trả lời:

Xét trên mức độ tác động tới môi trường cạnh tranh, Luật Canh tranh phân các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thành hai nhóm:

Nhóm 1: Nhóm thỏa thuận bị cấm trong mọi trường hợp, gồm (Khoản 1 Điều 9):

  • Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
  • Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận;
  • Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Nhóm 2: Nhóm thỏa thuận bị cấm khi thị phần kết hợp của các bên trên thị trường liên quan từ 30% trở lên, gồm (Khoản 2 Điều 9):

  • Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
  • Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thị, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
  • Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa dịch vụ;
  • Thỏa thuận hạn chế phát triển kĩ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
  • Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện kí kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.

Hình thức xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh:

Tùy vào hành vi vi phạm, mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra, khả năng gây hạn chế cạnh tranh của các đối tượng vi phạm, … mà bị xử lý theo quy định của Nghị định số 71/2014/NĐ-CP.

Ví dụ: Đối với Hành vi thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ (Điều 9), mức phạt như sau:

1.      Phạt tiền đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm của từng doanh nghiệp là các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Thỏa thuận về số lượng hoặc địa điểm mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc nhóm khách hàng đối với mỗi bên tham gia thỏa thuận;

b) Thỏa thuận mỗi bên tham gia thỏa thuận chỉ được mua hàng hóa, dịch vụ từ một hoặc một số nguồn cung cấp nhất định.

2.      Ngoài việc bị phạt tiền theo quy định tại Khoản 1 Điều này, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Khoản 2 Điều 8 của Nghị định này.

Câu 9: Quay trở lại với Dự thảo Luật cạnh tranh sửa đổi, thực tế là cho dù Luật có điều chỉnh thỏa đáng đến đâu mà người dân cũng như doanh nghiệp không nắm rõ thì hiệu lực thi hành trong đời sống xã hội cũng không thực sự cao. Vậy theo Luật sư, để người dân và các doanh nghiệp tiếp cận gần hơn và nhận thức đầy đủ hơn về Luật cạnh tranh, các cơ quan chức năng cần phải có những giải pháp như thế nào?

Luật sư trả lời:

Để người dân và các doanh nghiệp tiếp cận gần hơn và nhận thức đầy đủ hơn về Luật Cạnh tranh, các cơ quan chức năng cần phải có những giải pháp sau:

  • Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước chưa thực sự hiểu về khái niệm cạnh tranh đúng nghĩa. Luật Cạnh tranh vẫn xa vời với doanh nghiệp và rất ít doanh nghiệp nắm bắt được, không hiểu phải áp dụng ra sao. Do vậy, việc sửa đổi, bổ sung luật phải dùng ngôn ngữ dễ hiểu và sau đó phải tăng cường tuyên truyền pháp luật đến doanh nghiệp.
  • Luật Cạnh tranh cần được xác định là luật công, để bảo vệ các quan hệ cạnh tranh, một loại quan hệ công, thực sự được coi là hiến pháp của nền kinh tế thị trường, bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, làm động lực phát triển cho nền kinh tế.
  • Nhiều nội dung được quy định trong dự thảo chưa hợp lý và cần sửa đổi, bổ sung để phù hợp hơn. Đơn cử như: Luật Cạnh tranh (sửa đổi) cần có quy định rõ ràng và khách quan hơn về các yếu tố liên quan đến con người, đến bộ máy thực thi luật trong thực tế, để làm sao giúp lành mạnh hóa thị trường, nâng cao sức cạnh tranh cho mỗi doanh nghiệp trên thị trường.
  • Cần nâng cao vai trò của các cơ quan quản lý trong việc đánh giá dự báo tác động của thị trườngthế giới và thị trường trong nước, giúp doanh nghiệp nắm được những thông tin kịp thời, chính xác để có thể có chiến lược phù hợp với bối cảnh nền kinh tế. Đây là một nội dung quan trọng nhưng ở Việt Nam còn chưa chú trọng. Việc hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin và kiến thức để triển khai tốt công tác này là nhiệm vụ quan trọng của các hiệp hội doanh nghiệp và cả các cơ quan Chính phủ. Chính phủ cần tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, bổ sung và hoàn thiện sớm các quy hoạch phát triển ngành, vùng, giúp định hướng cho việc xác định chiến lược của doanh nghiệp.
  • Nhà nước cần có chính sách tăng cường công tác thông tin cho doanh nghiệp để tạo điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp tiếp cận các thông tin chính thức từ các cơ quan Chính phủ và các cơ quan liên quan. Trong thời gian qua nhiều cuộc gặp gỡ giữa các doanh nghiệp với các cơ quan chính quyền nhằm trao đổi thông tin, đối thoại về những vấn đề doanh nghiệp quan tâm, đồng thời chia sẻ thông tin từ chính cộng đồng doanh nghiệp đã được tổ chức, góp phần cung cấp những thông tin chính xác, kịp thời cho doanh nghiệp để định hướng kinh doanh.
Bên cạnh đó, phải nâng cao nhận thức và ý thức của cộng đồng xã hội về vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh, định hình văn hóa cạnh tranh trong kinh doanh và điều chỉnh hành vi ứng xử cho phù hợp không chỉ đối với cộng đồng doanh nghiệp mà cả đối với các cơ quan quản lý nhà nước và toàn thể cộng đồng xã hội