1. Đặt vấn đề

Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền con người gắn chặt với hoạt động xã hội, các mối quan hệ xã hội và các phương thức sống của cá nhân. Quyền con người là biểu hiện của tiêu chí tác động qua lại, củng cố các mối liên hệ, phối hợp hành động và hoạt động giữa con người với con người, ngăn ngừa các mâu thuẫn đối đầu và xung đột giữa họ trên cơ sở kết hợp tự do cá nhân với tự do của những người khác, với hoạt động bình thường của Nhà nước và xã hội. Những quyền như quyền được sống, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, được bất khả xâm phạm về thân thể, được tự do ngôn luận, tự do chính kiến, tự do tín ngưỡng, được tham gia vào các quá trình chính trị là những điều kiện cần thiết để con người tổ chức đời sống trong xã hội văn minh và cần phải được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ một cách vô điều kiện. Thời gian vừa qua, việc giải quyết các vụ án về ma túy liên quan đến hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 197 và “chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1999 (BLHS), có nhiều quan điểm không thống nhất trong việc giải quyết các vụ án loại này giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng. Chính vấn đề này đã gây khó khăn rất lớn trong quá trình tiến hành tố tụng khi xét xử các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng không nhỏ tới quyền con người. Việc có những quan điểm khác nhau giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng, cũng xuất phát từ chính những hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17/2007 ngày 24/12/2007 (viết tắt là Thông tư 17). Hiện nay, thông tư liên tịch 08/2015 đã khắc phục được một số điểm hạn chế tại thông tư liên tịch số 17/2007 nhưng vấn còn nhiều bất cập, gây khó khăn trong quá trình tiến hành tố tụng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền con người. Việc tìm hiểu các tội phạm về ma túy trong các bộ luật hình sự và thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư Pháp sửa đổi, bổ sung một số điểm của thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 là vấn đề vô cùng quan trọng, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn tố tụng đảm bảo quyền con người.

2. Nội dung

2.1. Các tội phạm về ma túy quy định trong Bộ luật hình sự

Các tội phạm về ma túy quy định trong Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999, được sửa đổi bổ sung ngày 19/6/2009 (sau đây viết là BLHS năm 1999) quy định rõ hành vi phạm tội và tên gọi chất ma túy và người phạm tội đã thực hiện hành vi vi phạm. Cụ thể là: Điều 102 quy định tội: “Trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy”. Khoản 1 điều luật này quy định: “người nào trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy, đã giáo dục nhiều lần… mà còn vi phạm thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Điều 193 quy định tội: “Sản xuất trái phép chất ma túy” Khoản 1 Điều luật này quy định: “Người nào sản xuất trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Điều luật này quy định rõ tên gọi một số chất ma túy như: nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, hêrôin, côcain hoặc chất ma túy khác.

Điều 194 quy định tội: “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy”, Khoản 1 Điều luật này quy định: “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Điều luật này quy định rõ tên gọi một số chất ma túy như nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao cô ca, côcain, hêrôin hoặc chất ma túy khác. Các tội phạm về ma túy quy định tại các điều 192, 193, 194 của BLHS năm 1999 mà chúng tôi trích dẫn trình bày ở trên được hiểu là: pháp luật hình sự Việt Nam trừng trị người có hành vi trồng một loại cây có tên gọi rõ ràng và cây đó có chứa chất ma túy tuy đã được giáo dục nhiều lần mà còn vi phạm và trừng trị người có hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy có tên gọi rõ ràng chứ không phải chế phẩm chất ma túy.

Do đó, khi truy tố, xét xử người phạm tội về ma túy thì bản cáo trạng, bản án phải ghi rõ tên gọi của chất ma túy mà người phạm tội và thực hiện hành vi vi phạm. Ví dụ, gọi chất ma túy là hêrôin và côcain v.v.. Trường hợp chất ma túy là ma túy tổng hợp thì phải làm rõ là tổng hợp các chất ma túy nào và ghi rõ tên gọi của từng chất ma túy đã tạo thành ma túy tổng hợp đó.

Chất ma túy mà người phạm tội đã thực hiện hành vi vi phạm phải là chất ma túy có trong danh mục quy định của các Công ước Quốc tế năm 1961, năm 1971, năm 1977 và năm 1988 mà Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố năm 2013… Có như vậy mới đúng với ý chí của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định trong Bộ luật Hình sự.

Các tội phạm về ma túy quy định trong Bộ luật hình sự được Quốc hội thông quy ngày 27/11/2015 (BLHS năm 2015) có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2018 cũng quy định rõ ràng hành vi phạm tội và quy định rõ tên gọi chất ma túy mà người phạm tội đã thực hiện hành vi vi phạm. cụ thể là:

Khoản 1 Điều 247 BLHS năm 2015 quy định tội trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy: “Người nào trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a. Đã được giáo dục 02 lần và đã được tạo điều kiện…

Khoản 1 Điều 248 BLHS năm 2015 quy định về tội sản xuất trái phép chất ma túy: “Người nào sản xuất trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”. Bên cạnh đó, Khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

b. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này…”

Khoản 1 Điều 250 BLHS năm 2015 quy định tội vận chuyển trái phép chất ma túy: “Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 đến 07 năm”.

Điều 251 BLHS năm 2015 quy định tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

Khoản 1 của điều luật này quy định: “Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 đến 07 năm.

“2) Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 đến 15 năm”

a. Có tổ chức.

b. Phạm tội 02 lần trở lên.”

Điều 252 BLHS năm 2015 quy định tội: “Chiếm đoạt chất ma túy” Khoản 1 của điều luật này quy định: “Người nào chiếm đoạt chất ma túy dưới bất cứ hình thức nào, thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”

c. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc….

d. Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 05gam.

đ. Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam.”

Có thể khẳng định, các tội phạm về ma túy là nhóm tội nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng được pháp luật hình sự quy định rất chặt chẽ.

2.2. Cần hiểu đúng thuật ngữ “trọng lượng” và thuật ngữ “khối lượng”

Có thể nhận thấy BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 đã quy định rõ tên gọi chất ma túy mà người phạm tội đã vi phạm và quy định trọng lượng chất ma túy mà người phạm tội vi phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định là trọng lượng ma túy vi phạm càng nhiều thì hình phạt càng nghiêm khắc hơn.

Ví dụ thứ nhất: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Điều 247 BLHS năm 2015 quy định tại khoản 1 của điều luật này như sau: Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

a. Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam

b. Hê rô in, cô cain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam.”

Ví dụ thứ hai: Điều 251 BLHS năm 2015 quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy tại Khoản 1 của điều luật này như sau: “Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Khoản 2 của điều luật này quy định: “Phạm tội trong các trường hợp sau đây th́ bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:”

c. Có tổ chức”

Quy định tại khoản 1 và tại khoản 2 điều 251 BLHS năm 2015 mà chúng tôi trích dẫn, trình bày ở trên chúng ta thấy rằng: Khoản 1 không quy định khối lượng cụ thể chất ma túy mà người phạm tội vi phạm nhưng tại Khoản 2 của điều luật lại quy định cụ thể khối lượng chất ma túy là: Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam. Quy định này được hiểu là: Các chất ma túy quy định tại Điểm h Khoản 2 điều 251 BLHS năm 2015 có khối lượng dưới 05 gam, thì người phạm tội phải chịu hình phạt theo quy định tại Khoản 1 của điều luật. Trường hợp khối lượng chất ma túy quy định tại Điểm h Khoản 2 Điều 251 năm 2015 có khối lượng trên 30 gam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt cao hơn mức phạt quy định tại Khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015.

Một vấn đề mà người hoạt động tố tụng hình sự không thể bỏ qua là: Các điều luật trong chương: “Các tội phạm về ma túy” Quy định trong BLHS năm 1999 (Từ điều 192 đến 195) và quy định trong BLHS năm 2015 (từ điều 247 đến 253) dùng từ khác nhau. Cụ thể là: BLHS năm 1999 quy định là “trọng lượng”, trong khi đó BLHS năm 2015 quy định là “khối lượng”. Chính sự quy định về trọng lượng, khối lượng quy định trong 02 BLHS cũng đã làm người học luật và người đọc BLHS phải tìm lối giải thích để làm rõ quy định nào là đúng.

Vấn đề trọng lượng, khối lượng được từ điển Tiếng Việt giải thích như sau.

Cụm từ “trọng lượng” có 03 cách giải thích, trong đó cách giải thích thứ hai về cụm từ “trọng lượng” là: “Từ thường dùng để chỉ khối lượng của một vật cụ thể nào đó”.

(Xem trang 1040 cuốn từ điển Tiếng Việt năm 2002 của Viện ngôn ngữ học. Nhà xuất bản Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học). Căn cứ sự giải thích này, thì người hoạt động tố tụng hình sự hay người đọc luật đều hiểu là: Trọng lượng và khối lượng là cùng một nội dung, không mâu thuẫn nhau.

Như vậy là trọng lượng với khối lượng chất ma túy là cùng một nội dung của một vấn đề. Muốn biết được trọng lượng (khối lượng) chất ma túy thì cần giám định hàm lượng chất ma túy. Nói cách khác là giám định hàm lượng chất ma túy, là nhằm mục đích để xác định trọng lượng (khối lượng) chất ma túy, được hiểu là đã có hàm lượng chất ma túy đó. Vấn đề này, tại điểm 1.4, mục 2 điều 1 của thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP Ngày 14/11/2015 của Bộ công an - Viện kiểm sát nhân đân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ tư pháp hướng dẫn và quy định như sau: “Trong mọi trường hợp, khi thu được các chất nghi là ma túy, thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy trong các trường hợp sau:

a. Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch.

b. Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể đã được pha loãng

c. Xái thuốc phiện

d. Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần.”

Nội dung hướng dẫn mà chúng tôi trình bày ở trên là rõ ràng về hai vấn đề bao gồm:

Một là: Mục đích của việc giám định hàm lượng chất ma túy để xác định trọng lượng chất ma túy.

Hai là: Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy khi thuộc một trong bốn trường hợp quy định tại điểm 1.4, mục 2.

Điều 1 của thông tư liên tịch 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP Ngày 14/11/2015 của Bộ công an - Viện kiểm sát nhân đân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ tư pháp. (Sau đây viết là thông tư liên tịch số 08/2015) Tuy nhiên trong thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự vẫn còn có ý kiến khác với hướng dẫn tại điểm 1.4 mục 2 điều 1 của thông tư liên tịch số 08/2015 và đã có trường hợp có người có thẩm quyền tiến hành tố tụng vụ án hình sự yêu cầu trưng cầu giám định hàm lượng chất ma túy không thuộc một trong bốn trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng được quy định tại điểm 1.4 mục 2 điều 1 của thông tư liên tịch số 08/2015 và yêu cầu trưng cầu giám định hàm lượng này đã bị từ chối. Với lý do không thuộc một trong bốn trường hợp quy định tại điều 1 của thông tư liên tịch số 08/2015.

3. Một số kiến nghị và đề xuất

Để thống nhất về nhận thức pháp luật đảm bảo quyền con người và áp dụng pháp luật thống nhất đối với các tội phạm về ma túy đồng thời chống “ùn tắc” các vụ án về ma túy do chờ kết quả trưng cầu giám định hàm lượng, chúng tôi đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nhà nước một số đề nghị sau đây:

Thứ nhất, về kỹ thuật làm luật cần rõ ràng và thống nhất các câu từ trong điều luật để người đọc luật hiểu đúng ý chí của Nhà làm luật. Có như vậy mới giảm bớt văn bản hướng dẫn thực hiện để bảo đảm quyền con người một cách tối thượng nhất.

Thứ hai, có cơ quan kiểm tra giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn Bộ Luật, thấp hơn Luật. Hiện đang có một thực tế là: Bộ luật Hình sự hiện hành có một số điều luật quy định tội phạm ma túy (từ Điều 192 đến Điều 201) trong đó điều luật quy định các tội: sản xuất trái phép chất ma túy, tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy đều chỉ quy định tên chất ma túy và trọng lượng chất ma túy mà không quy định hàm lượng chất ma túy đối với chất ma túy mà người có hành vi vi phạm thực hiện. Nhưng trong thực tế thì:

Ngày 24 tháng 12 năm 2007, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999. Thông tư này có hướng dẫn với nội dung là chất ma túy mà người thực hiện hành vi vi phạm bị phát hiện, bị thu giữ phải có hàm lượng chất ma túy đó thì mới được kết án xử phạt về hành vi phạm tội tương ứng. Đến ngày 14 tháng 11 năm 2015, Bộ trưởng Bộ công an, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, chánh án tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP về việc sửa đổi bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 mà chúng tôi trình bày ở trên.

Tuy nhiên Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14 tháng 11 năm 2015 đã không bãi bỏ hướng dẫn về xác định hàm lượng chất ma túy trong Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007. Do đó đến nay các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự khi giải quyết các vụ án về tội phạm ma túy vẫn căn cứ vào Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 để giải quyết. Cụ thể là: Trường hợp vụ án mà bản kết luận giám định chất ma túy có xác định hàm lượng chất ma túy là… % thì vụ án đưa ra xét xử. Đối với trường hợp bản kết luận giám định chất ma túy không xác định hàm lượng chất ma túy thì vụ án đó phải “đắp chiếu” chờ đợi cho đến khi xác định được hàm lượng chất ma túy mới tiếp tục giải quyết. Những vụ án về ma túy không xác định được hàm lượng chất ma túy trong những năm vừa qua là không ít, ảnh hưởng nhiều đến kết quả đấu tranh chống tội phạm về ma túy.

Việc các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự căn cứ vào Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 để làm cơ sở pháp lý giải quyết các vụ án về ma túy là trái với quy định tại Điều 80 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 11 năm 1996 được sửa đổi, bổ sung ngày 16 tháng 12 năm 2002. Điều này cũng trái với quy định tại Điều 83 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008 và cũng trái với quy định tại Điều 156 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội thông qua ngày 22 tháng 6 năm 2015. Vì các Điều 80, Điều 83 và Điều 156 của các Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật các năm 1996, năm 2008 và năm 2015 đều quy định như sau: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”.

Thứ ba, tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về pháp luật đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy dưới nhiều hình thức, trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc tổ chức trao đổi những vấn đề thời sự về đấu tranh chống tội phạm về ma túy ở địa phương hàng năm hoặc 06 tháng, nhất là hiện nay loại tội phạm này chưa giảm mà có biều hiện gia tăng số vụ và tăng số vụ phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng với phương thức thủ đoạn vô cùng tinh vi và liều lĩnh gây nhiều hậu quả vô cùng nghiêm trọng.

Thứ tư, tổ chức học tập các văn bản pháp luật đối với các tội phạm về ma túy để thư ký tòa án, hội thẩm nhâm dân; thẩm phán tòa án hiểu một cách chi tiết đầy đủ về văn bản pháp luật. Khắc phục tình trạng nhận thức pháp luật không thống nhất, thực hiện pháp luật không thống nhất và để cơ quan ban hành văn bản pháp luật với người thực hiện văn bản pháp luật gần nhau hơn, hiểu nhau hơn.

Thứ năm, hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn thi hành pháp luật về tội phạm ma túy có ý nghĩa rất quan trọng, bởi nếu pháp luật và hướng dẫn thi hành pháp luật được hoàn thiện và đầy đủ sẽ tạo ra tính thống nhất cao trong áp dụng, thi hành pháp luật giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và giữa những người tiến hành tố tụng, đồng thời tránh được các lỗ hổng pháp luật để các đối tượng phạm tội về ma túy lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội trốn tránh sự truy cứu của pháp luật. Hiện nay vẫn chưa có luật bảo vệ nhân chứng, người tố giác tội phạm... chính về thế đây là vấn đề nóng và rất cấp thiết cần đề nghị ban hành khẩn trương.

Thứ sáu, đối với luật phòng, chống ma túy cần sửa đổi Điều 28 Luật phòng, chống ma túy năm 2000 theo hướng tăng thời gian cai nghiện tập trung tối đa đến 36 tháng hoặc hơn tùy thuộc theo hiệu quả cai nghiện đối với từng đối tượng và quy định chặt chẽ hơn việc quản lý người sau cai nghiện, nhất là chế độ, chính sách tạo công ăn việc làm giúp họ tái hòa nhập cộng đồng.

Thứ bảy, đối với các văn bản quy định về danh mục chất ma túy và tiền chất cần bổ sung kịp thời một số chất ma túy tổng hợp mới vào danh mục chất ma túy để thuận lợi cho việc xử lý các đối tượng phạm tội ma túy đạt hiệu quả cao như thuốc PmP/PRO có chứa thành phần Dextroppropoxyphene. Đồng thời quy định cụ thể các tiền chất và quản lý chặt chẽ, cấm mua bán một số hóa chất không thể thiếu trong việc sản xuất ma túy trên thị trường. Cần tổng hợp gọn lại theo hướng ban hành 01 văn bản mới thay thế cho các nghị định 67, 133, 163, 17.

Thứ tám, đối với thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 về áp dụng qui định về “Các tội phạm ma túy” sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP về áp dụng một số qui định chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999, trong đó có quy dịnh: Chỉ trưng cầu giám định hàm lượng bắt buộc đối với 4 trường hợp cụ thể, gồm: Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch; chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng, xái thuốc phiện; thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần. Ngoài 4 trường hợp này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật. Qui định này đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho việc giải quyết các vụ án ma túy còn tồn đọng từ trước đó, song vẫn xẩy ra nguy cơ Tòa án yêu cầu giám định bổ sung nếu “xét thấy cần thiết”. Do đó, qui định này cũng cần thiết hướng dẫn cụ thể hơn để bảo đảm sự thống nhất trong xét xử loại tội phạm này để hạn chế sự oan sai trong tố tụng hình sự và bảo đảm vấn đề quyền con người.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1986.
  2. Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
  3. Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016.
  4. Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999.
  5. Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư Pháp sửa đổi, bổ sung một số điểm của thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999.
  6. Võ Khánh Vinh (2011), Giáo trình Quyền con người, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.