Quyền con người (human right) là một phạm trù đa diện, được nhìn nhận, đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, do đó, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người. Các nhà nghiên cứu thường trích dẫn định nghĩa của Văn phòng Cao uỷ Liên hợp quốc về quyền con người (Office of High Commissioner for Human Rights - OHCHR) theo đó, quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người[1]. Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra. Những định nghĩa này cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế[2].

Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người. Ngay sau khi giành được độc lập năm 1945, quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và sau đó tiếp tục được khẳng định với những nội hàm rộng, hẹp khác nhau trong các Hiến pháp năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Hiến pháp năm 2013, tại Điều 14 khẳng định một cách rõ ràng rằng, ở Việt Nam, “các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Nội dung các quyền con người đã được thể hiện xuyên suốt trong Hiến pháp, đặc biệt tập trung tại Chương II - “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác như Bộ luật dân sự 2015, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Bộ luật hình sự 2015, Bộ luật tố tụng hình sự… trong đó, quyền con người trong Tố tụng dân sự hiện nay được rất nhiều chủ thể quan tâm, nghiên cứu.

Tố tụng dân sự (TTDS) là tổng thể trình tự, thủ tục luật định được tiến hành bởi cơ quan tòa án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án trong việc xem xét, giải quyết, ra bản án quyết định đối với các vụ việc dân sự; thi hành bản án, quyết định dân sự; kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Với quyền tư pháp, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tôn trọng và bảo vệ các giá trị quyền con người. Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân và công dân, bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền tài sản, quyền nhân thân và các quyền tự do cơ bản của con người. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan công tố và kiểm sát tư pháp, bảo đảm các hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

1. Khái quát về quyền con người trong Tố tụng dân sự

Mỗi cá nhân là một chủ thể thụ hưởng các quyền con người và cũng là chủ thể thực hiện các quyền đó. Trong quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể luôn hướng tới xác lập, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình về quyền nhân thân và quyền tài sản. Nếu phát sinh các tranh chấp, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích, thông thường các chủ thể lựa chọn phương thức bảo vệ thông qua Toà án bằng con đường Tố tụng dân sự. Giải quyết tranh chấp dân sự trong tố tụng dân sự gồm cả giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại, lao động và hôn nhân gia đình. Đây là cách tiếp cận từ quyền dân sự, kinh tế trong Công ước quốc tế về quyền con người.

Việc giải quyết các vụ việc dân sự tại Toà án được nhận thức là công cụ bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động xét xử độc lập, khách quan, công bằng bởi thủ tục tố tụng chặt chẽ, minh bạch, tạo thuận lợi cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như hạn chế được việc lợi dụng tiến hành tố tụng xâm phạm quyền con người của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì lẽ đó, việc bảo đảm quyền con người trong tố tụng dân sự đòi hỏi phải được tiếp cận trong tổng thể quyền dân sự của con người, gắn với toàn bộ quá trình tố tụng dân sự: Từ giai đoạn khởi kiện, nộp án phí, thụ lý đến giai đoạn xét xử, ra quyết định xét xử, ra bản án và thi hành án dân sự.

Về lý luận, quyền con người trong tố tụng dân sự xuất phát từ những quyền tự nhiên của con người, các quyền đó được thừa nhận với những giá trị mang tính phổ quát nhất. Nó được ghi nhận ở các văn bản pháp luật quốc tế. Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và một số văn kiện pháp luật ở một số quốc gia, quyền con người được khẳng định một cách rõ ràng là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể tước bỏ được của mọi cá nhân. Cụ thể (đoạn 1, Lời nói đầu) nêu rằng:... thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại. Ở góc độ quốc gia, Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776) nêu rằng:... mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc... Những tuyên bố này về sau được tái khẳng định trong bản Tuyên ngôn Dân quyền và Quyền con người 1789 của nước Pháp và bản Tuyên ngôn Độc lập 1945 của Việt Nam[3].

Trong tố tụng dân sự, luật pháp quốc tế thừa nhận sự tham gia của ba nhóm người, tương ứng với ba nhóm quyền con người trong tố tụng dân sự: Nhóm quyền của các bên tranh chấp (quyền của nguyên đơn, bị đơn); nhóm quyền của người tiến hành tố tụng (điển hình là Tòa án).

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật quốc gia cũng thừa nhận và điều chỉnh quyền con người trong tố tụng dân sự, nó tạo cơ sở pháp lý cho con người tham gia các quan hệ pháp luật được đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp; trong đó Hiến Pháp, Bộ luật tố tụng dân sự là những nguồn cơ bản điều chỉnh hành vi và đảm bảo pháp lý về quyền con người trong Tố tụng dân sự. Hệ thống pháp luật tố tụng dân sự xác định các nội dung cơ bản như:

- Nguyên tắc cơ bản trong quá trình tố tụng dân sự.

- Các quyền cơ bản của đương sự.

- Thẩm quyền và điều kiện đảm bảo việc thực hiện các quyền của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng cũng như trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo quyền của đương sự và những người có liên quan trong tố tụng dân sự.

- Các quyền cơ bản của người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, phiên dịch v.v...

2. Đảm bảo quyền con người trong Tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay

2.1. Ưu điểm

Quyền con người trong tố tụng dân sự đã và đang được cụ thể hóa trong văn bản quy phạm pháp luật mà điển hình là Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam. Năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự được xây dựng; đến năm 2011, Bộ luật Tố tụng dân sự lại được tiến hành sửa đổi, bổ sung, và gần đây nhất, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được ban hành đã làm hoàn thiện và sâu sắc hơn cơ chế bảo vệ quyền con người trong tố tụng dân sự. Cụ thể như sau:

Một là, thay đổi quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự

Trước kia Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, tại Điều 159 quy định, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Điều này cũng quy định, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau: “a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện; b) Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.

Theo đó thời hiệu khởi kiện là khoảng thời gian mà trong khoảng thời gian đó chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, sau khoảng thời gian đó chủ thể mất yêu cầu khởi kiện. Để xác định khoảng thời gian đó là bao lâu thì phải tùy theo tính chất pháp lý của vụ việc, có vụ việc không giới hạn thời hiệu khởi kiện. Như vậy, nhìn chung theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 thì thời hiệu khởi kiện là một trong những điều kiện để thụ lý vụ án của Tòa án.

Tuy nhiên sang đến Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, tinh thần pháp luật đã thay đổi, theo đó quyền và lợi ích của các chủ thể được bảo vệ triệt để hơn. Cụ thể, Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự như sau: “1. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. 2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”.

Theo quy định trên, việc áp dụng thời hiệu này sẽ không tự động phát sinh mà chỉ được áp dụng nếu như có yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên và yêu cầu phải được đưa ra trước khi Tòa án đưa ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Điều này trên thực tế được hiểu là Tòa án sẽ không được từ chối thụ lý vụ việc vì đã hết thời hiệu khởi kiện. Bất cứ yêu cầu hợp lý của nguyên đơn - nguyên đơn chứng minh là người có quyền yêu cầu thì Tòa án đều phải thụ lý giải quyết. Sau khi Tòa án thụ lý thì theo yêu cầu của một bên hoặc hai bên Tòa án sẽ áp dụng thời hiệu khởi kiện để xét xem vụ việc đã quá thời hiệu khởi kiện chưa, nếu có căn cứ để cho rằng vụ việc đã quá thời hiệu khởi kiện thì tòa án khi đó mới ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc với lý do là vụ việc đã hết thời hiệu khởi kiện.

Điểm khác biệt và tiến bộ rõ rệt so với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 được thể hiện ở ý cuối: “Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”. Như vậy, nếu người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu thực hiện quyền từ chối áp dụng thời hiệu nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thì Tòa án sẽ tước quyền này của họ. Đây là sự tiến bộ nổi bật trong Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Trải qua quá trình áp dụng Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, sửa đổi bổ sung 2011, xét thấy thực tế có nhiều trường hợp tranh chấp không được giải quyết triệt để do những giới hạn về thời hiệu gây ra sự bất công cho người có quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng bị xâm phạm, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã khắc phục được điều đó và trên hết thể hiện tinh thần “Công lý phải được bảo vệ tới cùng”, hướng tới bảo vệ tối đa quyền con người cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTDS.

Hai là, thẩm quyền của Toà án.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền của Tòa án theo hướng tất cả những tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp theo quy định của luật thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác.

Quy định này nhằm tạo điều kiện để Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013, tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; đồng thời, để phù hợp với nguyên tắc “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Bộ luật này cũng bổ sung, quy định đầy đủ, cụ thể những loại tranh chấp và việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án bảo đảm phù hợp với luật nội dung đã quy định, như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đất đai, Bộ luật Lao động, Luật Thi hành án dân sự…

BLTTDS năm 2015 sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng để làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng trên cơ sở pháp điển hóa các văn bản hiện hành có liên quan; bổ sung quy định Thẩm tra viên, Kiểm tra viên là người tiến hành tố tụng và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể này để phù hợp với Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; bổ sung quy định Chánh án Tòa án khi giải quyết các vụ việc dân sự có quyền kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên nhằm cụ thể hóa và bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với quy định tại khoản 7 Điều 2 Luật Tổ chức TAND năm 2014.

Ba là, bổ sung một số nguyên tắc cơ bản trong TTDS.

So với BLTTDS cũ, những nội dung mới quan trọng nhất về những nguyên tắc cơ bản của TTDS trong BLTTDS năm 2015, cụ thể là: Bổ sung nguyên tắc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, việc giải quyết vụ việc dân sự được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật Dân sự (BLDS) và BLTTDS quy định (khoản 2 Điều 4).

Liên quan đến vấn đề này, BLDS năm 2015 đã quy định rõ nguyên tắc giải quyết các vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng, theo đó, Tòa án sẽ áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và lẽ công bằng để xem xét, giải quyết vụ việc dân sự. Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết các vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán TANDTC lựa chọn và được Chánh án TANDTC công bố. Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó.

BLTTDS năm 2015 còn bổ sung nguyên tắc “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử” nhằm cụ thể hóa quy định tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.

2.2. Một số vấn đề còn tồn tại

Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ngày càng hoàn thiện, song để đảm bảo các quyền con người trong tố tụng dân sự trong thực tế thì cả hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và trong thực thi pháp luật tố tụng dân sự vẫn còn có những tồn tại như sau:

Thứ nhất, BLTTDS năm 2015 chưa có hệ thống nguyên tắc đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự đầy đủ và hoàn thiện.

Về nguyên tắc độc lập của tòa án, muốn đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự thì nguyên tắc độc lập của tòa án cần thiết phải được đặt ra. Song thực tế tố tụng dân sự ở Việt Nam, thì nguyên tắc độc lập xét xử chỉ tuân theo pháp luật vẫn đang tồn tại một cách lệ thuộc vào mối quan hệ giữa các cơ quan, chủ thể tiến hành tố tụng dân sự. Hơn thế nữa, yếu tố tố tụng thẩm vấn hiện nay đang tạo ra cơ chế cho phép thẩm phán phải tham gia vào nhiều công đoạn tế nhị của tố tụng dân sự. Do đó, các thẩm phán chưa thể đáp ứng yêu cầu cơ bản của nguyên tắc độc lập của tòa án như: “Độc lập trong quá trình thực hiện chức năng của mình” hoặc “không được tham gia bất cứ hoạt động nào có khả năng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng xét xử họ”. Như vậy, thực tế nguyên tắc độc lập của tòa án chưa được công nhận là một nguyên tắc của tố tụng dân sự, nên vô hình chung tạo ra một nguyên nhân khách quan cho thẩm phán khi tiến hành tố tụng thiếu đi mất sự độc lập cần phải có[4].

Về sự tham gia của Viện kiểm sát trong quá trình tố tụng dân sự, thực tiễn cho thấy, muốn đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự một cách có hiệu quả, thì việc xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa các bên tham gia tố tụng là một vấn đề đáng cân nhắc ở Việt Nam hiện nay. Về lý luận, muốn các bên đương sự bình đẳng với nhau và thụ hưởng quyền bình đẳng, thì cần phải đánh giá lại vị trí của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự. Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự đảm bảo được tính pháp chế thì có đảm bảo được tính tự nguyện và bình đẳng giữa các bên trong quan hệ tố tụng dân sự hay không? Rõ ràng là đang có sự mâu thuẫn trong nhận thức về vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự. Vậy về mặt thực tiễn, Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự ở phiên sơ thẩm (ở các vụ án nhất định), tiến hành kháng nghị là phù hợp, song về mặt lý luận và xuất phát từ các nguyên lý cơ bản của ngành luật tố tụng dân sự, thì sự tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự đang phá vỡ mối quan hệ bình đẳng giữa các đương sự và với tòa án. Tuy nhiên, cũng cần phải tính đến thực tế vai trò của Viện kiểm sát đối với sự minh bạch của nền tư pháp để có được kết luận cuối cùng về vị trí của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự[5].

Thứ hai, một số các quy định trong BLTTDS đang đứng trước thực tế khó áp dụng, không mang tính khả thi.

Về quy định liên quan đến nghĩa vụ chứng minh, thu thập chứng cứ và đánh giá chứng cứ, Bộ luật Tố tụng dân sự được soạn thảo theo nguyên tắc chứng minh trong tố tụng dân sự. Chứng minh trong tố tụng dân sự vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của các bên đương sự. Chương VII về chứng cứ, chứng minh của BLTTDS năm 2015 có 20 điều (từ Điều 91 đến Điều 110) đã quy định rõ về nghĩa vụ chứng minh đối với các đương sự. Đây là một trong những nội dung quan trọng của BLTTDS năm 2015 nhằm làm cơ sở cho các đương sự xác định những nghĩa vụ của mình khi đưa ra yêu cầu và thực hiện tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Nếu đương sự không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và Tòa án không thể thu thập chứng cứ được thì có khả năng đương sự sẽ bị Tòa án tuyên bác yêu cầu. Đồng thời BLTTDS năm 2015 cũng quy định trong quá trình giải quyết phải bảo đảm cho người yếu thế không thể cung cấp được tài liệu chứng cứ vẫn có điều kiện thực hiện việc tranh tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cho nên có một số trường hợp cụ thể nghĩa vụ chứng minh thuộc về người bị yêu cầu (bị đơn). Đây là nguyên nhân làm cho các vụ án bị kéo dài thời gian giải quyết. Liên quan đến vấn đề này, có quan điểm cho rằng, phải kéo dài thời gian đến bao giờ có chứng cứ thì thôi, vì Bộ luật Tố tụng dân sự chưa quy định về thời gian thu thập và xuất trình chứng cứ; có quan điểm cho rằng, cần phải quy định một thời gian nhất định cho việc thu thập chứng cứ để cung cấp cho thẩm phán. Vì chưa có quy định cụ thể nên hiện nay, các vụ tranh chấp dân sự bị kéo dài thời gian do nghĩa vụ thu thập chứng cứ chưa được quy định cụ thể và trách nhiệm bắt buộc Tòa án phải mở phiên tòa cũng đang ở dạng tùy nghi, nên quyền lợi của các bên đương sự đang bị ảnh hưởng rất nhiều, thậm chí nghiêm trọng.

Về quy định tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 232, khoản 1 Điều 296, khoản 1 Điều 367 BLTTDS năm 2015, mà theo đó, Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa, phiên họp (sơ thẩm hoặc phúc thẩm) mà vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc xét xử, không hoãn phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm. Có quan điểm cho rằng, quy định này gây khó khăn trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, vì việc phân công Kiểm sát viên kiểm sát giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa được thực hiện khi Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án, hơn nữa quyết định đưa vụ án ra xét xử thời gian nào là do Thẩm phán chủ động quyết định nên thực tế xảy nhiều trường hợp một Kiểm sát viên có 02 hoặc nhiều vụ án cùng lên lịch xét xử cùng một thời điểm, hoặc cũng có trường hợp tuy lịch xét xử Tòa án lên không trùng nhưng do vụ án kéo dài nhiều ngày dẫn đến trùng với thời gian xét xử của vụ án khác mà không có kiểm sát viên dự khuyết, hoặc đến ngày xét xử Kiểm sát viên được phân công ốm không thể tham gia phiên tòa, trong những trường hợp này Kiểm sát viên không tham gia được phiên tòa, việc ra quyết định thay đổi Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không thực hiện được, không gửi kịp cho đương sự để họ thực hiện quyền đề nghị thay đổi Kiểm sát viên… Và như vậy, Viện kiểm sát cùng cấp không thực hiện được kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sẽ ảnh hưởng đến chất lượng phiên tòa.

Về trình tự, thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự hiện nay chưa thể hiện được là một quy trình tố tụng đảm bảo tối đa sự tuân thủ các nguyên tắc tố tụng dân sự và đảm bảo quyền con người. Bởi lẽ, chưa có sự phân biệt và cụ thể của nguyên tắc hai cấp xét xử, chưa có sự phân biệt giữa thủ tục của tố tụng dân sự với tố tụng hình sự ở diễn biến, trình tự và giai đoạn của mỗi phiên tòa. Giai đoạn chứng minh, tranh luận trong tố tụng dân sự chưa có gì khác với chứng minh, tranh luận trong tố tụng hình sự mặc dù bản chất, hình thức và nội dung, cách thức đòi hỏi tố tụng dân sự và tố tụng hình sự phải không giống nhau mới thể hiện được rõ nét quyền con người trong tố tụng dân sự và quyền con người trong tố tụng hình sự cần phải diễn ra như thế nào mới phù hợp[6].

2.3. Một số kiến nghị đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự

Nhằm mục đích đảm bảo đúng quy trình tố tụng dân sự, đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng dễ dàng trong việc giải quyết đúng thẩm quyền, đúng thời hạn, đúng pháp luật, hơn thế phải bảo vệ tối đa quyền con người trong tố tụng dân sự thì cần có các giải pháp cụ thể.

Trước hết, cần đảm bảo quyền độc lập cho tư pháp. Thẩm phán phải được tuyển chọn, bổ nhiệm đúng chất lượng, trình độ và quy chuẩn đạo đức. Quá trình thanh lọc các thẩm phán không đủ tiêu chuẩn, trình độ và đạo đức cần phải tiến hành từ phía kiến nghị của người dân bên cạnh việc dựa vào các quy định về tiêu chuẩn của thẩm phán.

Thứ hai, đảm bảo địa vị bình đẳng của các chủ thể tham gia tố tụng dân sự, đặc biệt là cơ chế để luật sư, người bào chữa tham gia các quá trình tố tụng dân sự theo nhu cầu của nguyên đơn, bị đơn. Tố tụng dân sự cần phải được hiểu là quá trình nhà nước, các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền đứng ra giải quyết tranh chấp giúp hai bên đương sự theo thủ tục tư pháp dân chủ. Do đó, nguyên tắc dân chủ, công khai, khách quan phải là nguyên tắc được quán triệt trong việc xây dựng pháp luật tố tụng dân sự, đồng thời cũng là nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Tòa án.

Thứ ba, cần có quy định cụ thể về thời gian thu thập và xuất trình chứng cứ để cung cấp cho thẩm phán nhằm đảm bảo về thời gian giải quyết vụ việc dân sự, bảo đảm tối đa quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân.

Thứ tư, việc đảm bảo tranh tụng được xem là một nguyên tắc trong tố tụng dân sự song có sự phân biệt cụ thể và rõ ràng giữa sự khác nhau của tranh tụng trong tố tụng hình sự với tranh tụng trong tố tụng dân sự từ thu thập chứng cứ, chứng minh lẫn phán quyết.

Quyền con người nói chung và quyền con người trong tố tụng dân sự nói riêng là vấn đề được nhiều chủ thể quan tâm, nghiên cứu. Pháp luật cần có các cơ chế phù hợp để đảm bảo quyền tố tụng dân sự của các cá nhân khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh doanh - thương mại. Bên cạnh đó, khi thực hiện thủ tục tố tụng dân sự, cần lưu ý sao cho vấn đề được giải quyết nhanh, đúng trình tự trong mối liên hệ với bảo vệ quyền công dân, bảo vệ được pháp chế xã hội chủ nghĩa.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. OHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006.
  2. Đề tài khoa học cấp Bộ về “Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam”.
  3. Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng, Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011.
  4. 4.TS. Trương Thị Hồng Hà, Quyền con người trong tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí dân chủ pháp luật, 2013.
  5. Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, NXB. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, 2017.

 



* Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Vinh.

[1] OHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr.1.

[2] Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng, Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr.38.

[3] Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng, Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr.41.

[4] TS. Trương Thị Hồng Hà, Quyền con người trong tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí dân chủ pháp luật, 2013

[5] TS. Trương Thị Hồng Hà, Quyền con người trong tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí dân chủ pháp luật, 2013

[6] TS. Trương Thị Hồng Hà, Quyền con người trong tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí dân chủ pháp luật, 2013