1. Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hiến pháp trên thế giới

1.1. Bảo vệ quyền con người trong tố tụng tư pháp thường theo mô tài phán hiến pháp Hoa Kỳ

Theo mô hình tài phán hiến pháp phi tập trung, tất cả các tòa án thường đều có quyền thực hiện chức năng bảo hiến. Mô hình này ra đời ở Hoa Kỳ từ vụ án nổi tiếng năm 1802 xác lập quyền tài phán hiến pháp của Tòa án tối cao, trở thành án lệ cho phép tất các các tòa án cấp dưới có quyền kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật trong một vụ việc cụ thể.

Từ vụ án nổi tiếng năm 1802 cho tới nay, nhiều thảo luận học thuật tập trung bàn về tính chính đáng của cơ chế bảo hiến bởi các tòa án (tài phán hiến pháp). Một số người cho rằng mô hình này thiếu tính chính đáng, bởi các thẩm phán không được bầu ra theo phương thức bỏ phiếu, có nhiệm kỳ suốt đời lại có quyền kiểm tra các đạo luật được ban hành bởi các đại diện do nhân dân trực tiếp bầu ra, và thêm nữa Hiến pháp không quy định rõ ràng quyền hạn này thuộc về các thẩm phán. Tuy nhiên, mô hình bảo hiến Hoa Kỳ ngày càng được nhiều người ủng hộ, được nhân rộng và phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Cơ sở bảo vệ vững chắc mô hình này là lập luận dựa trên quyền con người.

Theo cách tiếp cận dựa trên quyền, nhiều học giả theo trường phái này đã phân tích tính ưu thế của các tòa án so với các nhà lập pháp trong việc bảo vệ các quyền con người. Michael S. Moore, một đại diện cho trường phái tiếp cận bảo hiến dựa trên quyền đã phân tích so sánh đặc tính của tòa án và cơ quan lập pháp trong việc bảo vệ các quyền con người.

ĐẶC TÍNH CỦA TÒA ÁN VÀ CƠ QUAN LẬP PHÁP

STT

Tiêu chí

Các tòa án

Cơ quan lập pháp

1

Các quyền được bảo vệ (phân loại)

Các tòa án chỉ quyết định các vụ việc và tranh chấp.

Cơ quan lập pháp đại diện cho các công dân thông qua công việc làm luật.

2

Chủ thể bảo vệ

- Các tòa án không phải là đa số, đại diện. Tư pháp độc lập.

- Các tòa án thường lập luận dựa trên các quy phạm.

Cơ quan lập pháp thường có xu hướng vụ lợi bởi vì:

a. theo đuổi những lợi ích chung.

b. bản chất chủ nghĩa đa số.

c. bản chất đại diện

3

Lập luận dựa trên quyền con người là “đạo lý cơ bản”, bởi vì nó dựa trên:

a. Sự phổ biến

b. Sự công bằng

- Tồn tại truyền thống của tính phổ biến trong các tòa án luật chung.

- Công lý là bản chất đầu tiên của các tòa án.

- Lập luận lập pháp thường là sự thỏa hiệp chính trị tạm thời.

4

Các quyền là sản phẩm của sự tranh tụng có căn cứ.

- Các tòa án là những người lập luận tranh tụng dựa trên việc sử dụng các quan điểm, ý kiến của họ.

- Bản chất tư pháp được định nghĩa là để nâng cao sự tranh tụng có căn cứ.

- Lập luận lập pháp là đại diện cho những lập luận của người khác.

 

5

Các quyền chỉ có thể được bảo vệ nếu phần lớn công dân thuyết phục rằng họ phải được bảo vệ.

- Các tòa án có thể thuyết phục về quyền bởi vì:

a. Họ đối mặt với các sự vụ cá nhân nghiêm trọng về quyền.

b. Họ là những người gìn giữ “tôn giáo dân sự” của chúng ta.

- Các nhà lập pháp không có sự vụ.

6

Không ai là thẩm phán trong vụ việc của chính họ, khi họ có các trách nhiệm gắn với quyền lợi liên quan.

- Bản chất không đại diện của các thẩm phán là một lợi thế ở đây.

Các nhà lập pháp và đa số dân chúng mà họ đại diện quyết định các trách nhiệm của chính họ đối với những người nắm giữ quyền thiểu số.

Dựa trên các kết quả so sánh trên, tòa án có nhiều ưu thế so với cơ quan lập pháp trong việc bảo vệ các quyền con người:

Thứ nhất, các tòa án bảo vệ các quyền hiến định trong những vụ tranh chấp cụ thể. Đây là một ưu thế lớn trong việc bảo vệ quyền con người, bởi việc bảo vệ quyền thường chỉ được đặt ra cấp thiết khi có vi phạm, tranh chấp cụ thể.

Thứ hai, các tòa án là những chủ thể rất có ưu thế trong việc bảo vệ các quyền hiến pháp, bởi các các tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không chịu sự chi phối của bất cứ tổ chức chính trị, cá nhân nào. Khi giải quyết các vụ việc hiến pháp, hiến pháp là cơ sở của các phán quyết của tòa án. Trong khi đó, cơ quan lập pháp thì lại thường có xu hướng vụ lợi, chính trị do những lợi ích mà nó theo đuổi, quyết định theo ý chí đa số và đại diện cho cử tri. Trong điều kiện như vậy, các đạo luật có khả năng không được ban hành trong khuôn khổ của hiến pháp. Tòa án là chủ thể cần được trao quyền đảm bảo tính hợp hiến của các đạo luật.

Thứ ba, các tòa án bảo vệ quyền dựa trên nền tảng của công lý như sự phổ biến, sự công bằng. Các phán quyết của tòa án bình đẳng cho tất cả mọi người, không gì nằm ngoài công lý, dựa trên công lý và vì công lý. Trong khi đó, các quyết định lập pháp phản chiếu các thỏa hiệp chính trị tạm thời, dẫn đến nguy cơ đi ngược lại những chuẩn mức phổ quát và công bằng. Công lý cần đặt cao hơn so với chính trị, tòa án cần có vị thị ưu thế trong việc kiểm tra sự hợp hiến của các đạo luật do Nghị viện ban hành.

Thứ tư, các tòa án bảo vệ các quyền dựa trên những lập luận tranh tụng của họ về những vấn đề tranh chấp. Điều này cho phép các thẩm phán có thể bảo vệ một cách đúng đắn, công bằng các quyền con người. Đặc điểm ưu thế này của các tòa án là rất dễ nhận thấy so với cơ quan lập pháp, nơi mà việc ban hành các quyết định không dựa trên quan điểm của “chính họ”, mà của những người mà họ đại diện. Trên thực tế, quan điểm đại diện không phải lúc nào cũng đúng và cần có cơ chế để kiểm soát nó.

Thứ năm, các tòa án bảo vệ các quyền trên cơ sở các đề xuất của những chủ thể quyền đặt vấn đề về sự vi phạm các quyền của họ. Các nỗ lực bảo vệ của các bên liên quan trong vụ việc sẽ là cơ sở bảo đảm bảo vệ đích thực các quyền con người. Trong khi đó, các nhà lập pháp ban hành các điều luật chung, nên khó tránh khỏi những sai sót trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con người.

Thứ sáu, các thẩm phán quyết định công bằng, bởi vì các thẩm phán độc lập với các bên có trách nhiệm và quyền lợi liên quan; các thẩm phán không đại diện cho họ. Trong khi đó, các nhà lập pháp lại có thể quyết định quyền cho các nhóm thiểu số, trong khi nguyên tắc đa số có thể xung đột với nguyên tắc thiếu số. Tòa án có khả năng bảo vệ quyền của những người, nhóm thiểu số trước sự cai trị, lộng hành của đa số.

Về thủ tục, các tòa án xem xét bảo vệ các quyền hiến định thông qua quyền khiếu kiện của các bên trong một vụ việc đang được xem xét tại tòa án về tính hợp pháp của đạo luật được áp dụng cho vụ việc đó (thủ tục tố tụng thông thường). Cụ thể như sau:

- Các bên trong một vụ việc cụ thể đang được giải quyết tại một tòa án đề xuất tòa án xem xét sự bất hợp hiến của một đạo luật đang có hiệu lực vi phạm đến các quyền cơ bản được hiến pháp bảo vệ.

- Tòa án, nếu thấy khiếu kiện hiến pháp có đủ cơ sở, sẽ dừng vụ việc đang giải quyết lại để giải quyết vụ việc hiến pháp.

- Phán quyết của tòa án có giá trị áp dụng đối với các bên trong vụ việc đó.

Mặc dù về cơ bản, thủ tục tư pháp thường được áp dụng trong các vụ việc hiến pháp, một số nguyên tắc về thủ tục cũng được thiết lập. Ở Hoa Kỳ, một vụ việc bảo hiến được giải quyết tại Tòa án tối cao (cũng giống như ở các tòa án cấp dưới) được thực hiện theo những quy tắc thủ tục sau đây:

- Một “vụ việc” hoặc “tranh chấp” về pháp luật giữa các bên dựa trên Hiến pháp, liên quan đến sự bảo vệ hoặc thực thi các quyền lợi hợp pháp, hoặc sự ngăn chặn áp dụng hình phạt, hoặc sự đền bù cho các các hành vi sai trái trực tiếp liên quan đến một hoặc nhiều bên đưa vụ việc ra Tòa, phải xuất hiện trước khi Tòa án xem xét.

- Tòa án phải có thẩm quyền đối với vụ việc xét xử và/hoặc các bên liên quan trong vụ việc: vụ việc nằm trong phạm vi thẩm quyền tài phán của Tòa án.

- Một hoặc các bên đưa vụ việc ra tòa phải đại diện cho bản thân và bị xâm phạm thực chất bởi một đạo luật hoặc hành vi chính phủ hoặc trong tình trạng nguy hiểm của sự xâm phạm, và/hoặc là một thành viên của một tầng lớp hoặc nhóm bị đạo luật hoặc hành vi chính phủ xâm phạm.

- Các thẩm phán liên bang không ban hành các ý kiến tư vấn, mà phải ban hành phán quyết về vụ việc nảy sinh từ tranh chấp.

- Tòa án không ủng hộ các lập luận trừu tượng, tức là bên khiếu kiện không những phải nêu ra một điều khoản cụ thể của Hiến pháp, mà vấn đề khởi kiện phải chứa đựng một vấn đề hiến pháp trực tiếp cụ thể.

- Tòa án không quyết định về tính hợp hiện của một đạo luật hoặc một hành vi theo mệnh lệnh của bất kỳ ai đã lợi dụng những lợi ích từ đó, mà phán quyết để kiểm duyệt về tính hợp hiến.

- Trước khi làm đơn xem xét tính hợp hiến, tất cả các phương thức tìm kiếm giải pháp đã phải được sử dụng hết trong các quy trình tòa án cấp dưới.

- Vấn đề đặt ra tại Tòa án phải quan trọng, là điểm then chốt của vụ án, và phải là một phần của vụ việc của nguyên đơn thay vì là một phần trong lập luận bảo vệ của bị đơn.

- Tòa án tối cao thường xem xét các vấn đề về nội dung hơn là xem xét các vấn đề về pháp luật để phán quyết.

Không giống như các Tòa án Hiến pháp - cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hiệu lực của các đạo luật vi phạm hiến pháp, các tòa án Hoa Kỳ chỉ có thẩm quyền xem xét, đánh giá về tính hợp hiến của các đạo luật để áp dụng hay không áp dụng đạo luật đó. Cho dù một đạo luật rõ ràng vi phạm hiến pháp, tòa án cũng chỉ thực hiện vai trò với tính cách là một cơ quan tư pháp thay vì một cơ quan làm luật: chỉ xem xét, đánh giá tính hợp hiến của luật. Hiểu theo cách này, tòa án chỉ xem xét mâu thuẫn giữa hai quy phạm (luật và hiến pháp) để áp dụng luật hợp hiến hoặc không áp dụng luật vi hiến. Cũng chính vì vậy, tòa án chỉ căn cứ vào các nền tảng hiến pháp để ban hành phán quyết.

Bảo vệ quyền con người thông theo quy trình tư pháp thường các cách thức của mô hình bảo hiến phi tập trung có nhiều ưu thế trong việc bảo vệ các quyền cơ bản:

Thứ nhất, các khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện hiến pháp xuất phát từ một vụ việc cụ thể tại tòa án nhằm bảo vệ các quyền hiến định của các bên liên quan. Nói cách khác, các bên trong vụ việc xét xử tại tòa án có quyền khởi kiện tòa án xem xét các đạo luật vi phạm các quyền của họ được hiến pháp ghi nhận và bảo vệ. Khi trao cho công dân có quyền khởi kiện tòa án xem xét vụ việc hiến pháp, các công dân khởi động và các thẩm phán giải quyết vụ án Hiến pháp.

Thứ hai, mô hình tài phán hiến pháp cụ thể thúc đẩy các vụ việc hiến pháp được xem xét, bởi các cá nhân, công dân có nhu cầu bảo vệ các quyền hiến định bị vi phạm. Vụ việc hiến pháp không phải đợi các đề xuất của các cơ quan nhà nước (thường ẩn sau nhiều lợi ích chính trị), mà xuất phát từ yêu cầu bảo vệ các quyền hiến định của chính các bên trong vụ việc.

Thứ ba, mô hình này cũng rất thích hợp trong việc phát hiện các vi phạm, bởi vì vụ việc hiến pháp được đặt ra trong một vụ việc áp dụng luật. Qua tranh luận tại phiên tòa, với sự hỗ trợ của các luật sư, các bên có khả năng phát hiện ra các vi phạm hiến pháp để đề nghị tòa án xem xét.

1.2. Bảo vệ quyền con người trong tố tụng tư pháp đặc biệt theo mô hình tài phán hiến pháp tập trung

Sau Hiến pháp của Hoa Kỳ năm 1789, nhiều quốc gia khắp thế giới đã ban hành hiến pháp ghi nhận chủ quyền nhân dân và các quyền con người, quyền công dân. Việc tuyên bố các quyền và tự do cơ bản của con người trong hiến pháp đòi hỏi sự ra đời cơ chế bảo vệ các quyền hiến định trước sự xâm phạm của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền. Yêu cầu đó, cùng với những ảnh hưởng của mô hình Hoa Kỳ, đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ và phổ biến của bảo hiến trên thế giới. Hiện có rất nhiều quốc gia áp dụng mô hình bảo hiến này.

Ở các nước Châu Âu, với đặc điểm về truyền thống chính trị- pháp lý, tổ chức quyền lực nhà nước so với Hoa Kỳ, đã xây dựng một mô hình bảo hiến đặc thù: Tòa án hiến pháp. Lúc đầu theo mô hình của Kelsen, bảo vệ các quyền cơ bản chưa phải là một chức năng của Tòa án Hiến pháp. Khi đó, việc kiểm soát sự phân chia, phối hợp quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trung ương là chức năng cơ bản của các Tòa án Hiến pháp. Thực tế, một số cơ quan bảo hiến lúc đó cũng không được trao thảm quyền bảo vệ các quyền con người, như cơ quan bảo hiến ở Canada, ở Pháp trước năm 1971 hay ở Bỉ trước năm 1989.

Tuy nhiên, các Tòa án Hiến pháp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các quyền con người. Sự phát triển của các Tòa án Hiến pháp gắn liền với sự phát triển chức năng bảo vệ các quyền con người:

- Thẩm quyền của các tòa án hiến pháp ngày càng mở rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi phân định thẩm quyền hiến định giữa các nhánh quyền lực, mà mở rộng sang việc kiểm soát các cơ quan nhà nước, đặc biệt là cơ quan lập pháp trong việc đảm bảo các quyền con người.

- Sự hình thành các quy chuẩn và cơ chế khu vực về quyền con người (như các quy định Châu Âu về quyền cơ bản cùng với Tòa án Châu âu về quyền con người) đã thúc đẩy vai trò của các Tòa án Hiến pháp trong việc bảo vệ các quyền con người được ghi nhận.

- Các Tòa án Hiến pháp thực hiện quyền kiểm hiến bảo vệ các quy định về quyền con người được quy định trong hiến pháp nhằm đảm bảo giải thích thống nhất các quy phạm hiến pháp liên quan đến các quyền con người trong thực tiễn xét xử của toàn bộ hệ thống tư pháp.

Khi bảo vệ các quyền cơ bản trở thành một chức năng cơ bản của các tòa án hiến pháp, bản thân tài phán hiến pháp cũng phát triển theo xu hướng bảo vệ tốt hơn các quyền con người.

Thực chất, quyền khiếu kiện hiến pháp của người dân để bảo vệ các quyền hiến định không phải là một đặc điểm của mô hình Tòa án Hiến pháp. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển dưới sự ảnh hưởng của mô hình tài phán hiến pháp Hoa Kỳ, rất nhiều Tòa án Hiến pháp đã cho phép người dân được quyền khiếu kiện trực tiếp lên cơ quan bảo hiến khi các quyền bị vi phạm. Nói cách khác, các bên trong vụ việc có quyền đề nghị tòa án thường xem xét đưa vụ việc lên tòa án hiến pháp để kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật để bảo vệ các quyền và tự do bị xâm phạm. Không chỉ thông qua các tòa án, một số hiến pháp còn cho phép công dân được quyền khởi kiện trực tiếp lên Tòa án Hiến pháp để bảo vệ các quyền hiến định của họ. Tòa án Hiến pháp của Đức là một mô hình rất điển hình cho phép các công dân có quyền khởi kiện trực tiếp. Các quy định của Hiến pháp Đức có mục tiêu tạo điều kiện tối đa cho các cá nhân có thể tiếp cận được Tòa án Hiến pháp. Khi không thể đề nghị giải quyết thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các cá nhân vẫn có thể kiện lên Tòa án Hiến pháp để bảo vệ quyền của họ. Quyền của cá nhân trong việc trực tiếp đề nghị Tòa án Hiến pháp là một quyền rất quan trọng của các công dân để các cá nhân bảo vệ các quyền và tự do của họ. Trong điều kiện như vậy, Tòa án Hiến pháp đã phát huy vai trò lớn trong việc bảo vệ hiến pháp và nền dân chủ.

Hội đồng Hiến pháp một số nước cũng đang có những cải cách theo xu hướng này. Trước năm 2008, Hội đồng Hiến pháp của Pháp là mô hình bảo hiến hạn chế, bởi nó chỉ được thực hiện quyền kiểm hiến các dự luật trước khi Tổng thống công bố, chứ không có quyền kiểm tra tính hợp hiến các đạo luật đã có hiệu lực. Do đó, Hội đồng Hiến pháp cũng không thể bảo vệ các quyền con người, quyền công dân khi bị một đạo luật trái Hiến pháp xâm phạm. Tuy vậy, với một sửa đổi Hiến pháp năm 2008, Hội đồng Hiến pháp được trao quyền kiểm hiến sau đối với các đạo luật xuất phát từ một vụ việc cụ thể của tòa án thông qua đề nghị của Tòa hành chính tối cao và Tòa án tối cao. Đây có thể nói là cải cách Hiến pháp quan trọng nhất về Hội đồng Hiến pháp, bởi vì Hội đồng Hiến pháp được chuyển dịch từ một thiết chế mang nhiều yếu tố chính trị - hạn chế sang một thiết chế tài phán hiến pháp. Hay nói cách khác, nước Pháp cuối cùng cũng phải tiến tới tài phán hiến pháp thực thụ, mặc dầu còn một vài hạn chế để có thể được coi là tài phán hiến pháp đầy đủ.

Tương tự ở các nước khác theo mô hình Hội đồng Hiến pháp, ngày càng nhiều Hiến pháp trao cho các bên trong một vụ án tư pháp có quyền đề nghị tòa án trình Hội đồng Hiến pháp kiểm tra các đạo luật áp dụng cho vụ việc đang giải quyết. Những quy định này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tạo cơ hội cho công dân có khả năng tiếp cận Hội đồng Hiến pháp[1].

Ở các nước đang chuyển đổi, vấn đề bảo vệ quyền con người là nội dung cơ bản được thảo luận làm căn cứ cho sự hình thành, cải cách các cơ quan bảo hiến. Các Tòa án Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp ở Đông âu sau khi Liên Xô Tan rã, các nước Châu á và Châu Phi hình thành và phát triển theo mục tiêu bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.

Về thủ tục, vụ việc bảo hiến được thực hiện theo thủ tục tư pháp đặc biệt so với thủ tục tư pháp thường. Trong mô hình tập trung truyền thống, tòa án hiến pháp kiểm tra trừu tượng tính hợp hiến các đạo luật, tức vấn đề kiểm tra tính hợp hiến của một đạo luật không liên quan đến một vụ tranh chấp về quyền của các bên có liên quan, mà là giải quyết mâu thuẫn giữa hai quy phạm chung (hiến pháp và luật). Cụ thể:

- Bên cạnh việc xem xét các đạo luật đã có hiệu lực (hậu kiểm hiến), vấn đề bất hợp hiến của một đạo luật có thể được đặt ra trước khi một luật có hiệu lực (tiền kiểm hiến).

- Chủ thể đề xuất vấn đề kiểm tra tính hợp hiến các đạo luật là các chủ thể quyền lực nhà nước (như Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng, các nghị sỹ, Chủ tịch các viện lập pháp), chứ không phải là các bên trong một vụ việc đặt vấn đề về sự vi phạm các quyền cơ bản của họ. Như vậy, mô hình này không cho phép người dân được quyền khởi kiện trực tiếp các vi phạm hiến pháp lên cơ quan bảo hiến để bảo vệ các quyền hiến định của họ, mà phải thông qua “bộ lọc” đề xuất của các cơ quan nhà nước.

- Khi có đề nghị, Tòa án Hiến pháp sẽ thụ lý xem xét sự phù hợp của các đạo luật với hiến pháp. Phán quyết của Tòa án thường có giá trị chung thẩm, làm mất hiệu lực của đạo luật, có giá trị pháp lý chung.

Mô hình này có một số hạn chế nhất định so với mô hình tư pháp thường trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người, cụ thể:

Thứ nhất, mô hình này không thúc đẩy việc bảo vệ các quyền hiến định của người dân, bởi vì người dân không có quyền khởi kiện trực tiếp để bảo vệ quyền của họ; trong khi đó các chủ thể chính trị thường cần nhắc nhiều lợi ích chính trị trong các đề xuất của mình lên cơ quan bảo hiến.

Thứ hai, mô hình này hạn chế các vụ việc hiến pháp, bởi chỉ có những chủ thể nhất định mới có quyền đề nghị cơ quan bảo hiến xem xét vụ việc hiến pháp. Hơn nữa, khi bị phụ thuộc chính trị, họ sẽ không tích cực đưa vụ việc lên Tòa án hiến pháp. Trên thực tế, không ít trường hợp đã cho thấy các chủ thể chính trị đã không/hoặc rất ít thực hiện quyền khởi kiện lên cơ quan bảo hiến vì nhiều lý do chính trị.

- Thứ ba, mô hình này cũng không có ưu điểm trong việc phát hiện các vi phạm, bởi việc xem xét kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật không xuất phát từ việc áp dụng pháp luật để giải quyết một vụ việc tại tòa án.

Tuy nhiên, nhiều nước có Tòa án Hiến pháp đều đã du nhập phương thức “tài phán cụ thể” của mô hình phi tập trung, theo đó vụ việc hiến pháp bảo vệ các quyền cơ bản xuất phát từ một tranh chấp cụ thể về quyền. Tuy nhiên, cũng có nhiều phương thức khác nhau trong quy trình tố tụng hiến pháp.

- Về chủ thể đề xuất, tùy vào từng nước các chủ thể khác nhau như các công dân (như ở Đức, Hàn Quốc), các tòa án trong một vụ việc đang giải quyết (như ở Ý, Tây Ban Nha, Bỉ) hoặc chỉ các tòa án cấp cao (như ở Áo, Hy Lạp).

- Để đảm bảo không bị quá tải các vụ việc hiến pháp, các nước đều quy định các hệ thống “lọc” các đề xuất. Thông thường, các đề xuât nêu các vấn đề hiến pháp có “cơ sở rõ ràng” hoặc “tầm quan trọng mang tính quyết định” mới được Tòa án xem xét. Việc trao quyền cho các tòa án thường/hoặc tòa án tối cao có quyền quyết định đưa vụ việc lên Tòa án hiến pháp cũng là một cách thức đề giới hạn các đề xuất lên Tòa án hiến pháp.

2. Một số giá trị tham khảo cho Việt Nam

Để hiện thực hóa các quyền hiến định của công dân, Hiến pháp phải định ra các thủ tục, quy trình cho việc thực thi đó. Quy trình phổ biến nhất được quy định trong Hiến pháp các nước là “tài phán hiến pháp”. Theo quy trình này, người dân có quyền khiếu kiện ra các cơ quan tư pháp/hoặc có tính chất tư pháp (Tòa án Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp hoặc các tòa án thường) để đề nghị phát quyết về tính bất hợp hiến hành vi (kể cả văn bản quy phạm pháp luật) của các cơ quan công quyền.

Hiến pháp hiện hành của nước ta không có các quy định về thủ tục, quy trình tư pháp để người dân thực hiện các quyền hiến định của họ. Thiếu sự trao quyền và khả năng người dân có thể sử dụng Hiến pháp để bảo vệ quyền hiến định của họ thông qua một cơ quan tài phán Hiến pháp độc lập là những hạn chế rất lớn và cơ bản nhằm đảm bảo sự thực thi Hiến pháp trong tương lai. Việc thành lập một Tòa án Hiến pháp/Hội đồng Hiến pháp độc lập, có thẩm quyền rộng rãi và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được quyền khởi kiện trực tiếp là những điều kiện tiên quyết bảo đảm sự thực thi Hiến pháp.

Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định trách nhiệm của các tòa án cùng các cơ quan Nhà nước khác trong việc bảo vệ Hiến pháp. Tuy nhiên, hiện nay khó có thể trao quyền tài phán hiến pháp cho tất cả các tòa án, mà chỉ nên nghiên cứu trao quyền này cho Tòa án nhân dân tối cao, xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:

- Trên thực tế, việc bảo đảm vị trí, vai trò của tòa án nhân dân các cấp vẫn còn rất nhiều vấn đề bất cập, hạn chế, như thiếu tính độc lập tư pháp, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của thẩm phán còn hạn chế, thiếu sự tin tưởng của xã hội, người dân về một hệ thống tư pháp bảo đảm công lý, các quyền con người, quyền công dân.

- Tòa án nhân dân tối cao được xác định có vị thế phù hợp trong vai trò bảo vệ Hiến pháp. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội phê chuẩn. Quy định này nhằm nâng cao vị thế của thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hiến pháp năm 2013 cũng xác định: Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Việc trao quyền tài phán hiến pháp cho Tòa án nhân dân tối cao phù hợp với thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao, đặc biệt trong việc thực hiện việc tổng kết xét xử và bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật.

- Trên thế giới, khi lựa chọn áp dụng mô hình bảo hiến Hoa Kỳ, một số quốc gia cũng đã điều chỉnh mô hình này theo hướng chỉ trao quyền tài phán cho Tòa án tối cao (thay vì trao cho tòa án các cấp). Lý do cơ bản của sự lựa chọn này cũng xuất phát từ những bối cảnh cải cách tư pháp như ở Việt Nam.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Tòa án mới chỉ được trao quyền quyền phát hiện, kiến nghị các văn bản pháp luật vi phạm hiến pháp. Cụ thể, Luật tố tụng hành chính quy định: Tòa hành chính có quyền phán hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (các Điều 111-114). Theo các quy định này, Tòa hành chính chỉ có quyền kiến nghị, không có quyền đình chỉ, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến pháp, luật. Trong khi đó, các luật tố tụng khác lại không có quy định về quyền hạn này của Tòa án. Đối với các văn luật của Quốc hội, văn bản của UBTVQH, thì Tòa án tối cao có thẩm quyền đề nghị các cơ quan này xem xét, quyết định.

Thẩm quyền hạn chế của tòa án trong việc xử lý các văn bản pháp luật vi phạm Hiến pháp là để phù hợp với nguyên tắc Quốc hội tối cao và phân công quyền lực ở nhà nước ta. Tuy vậy, theo kinh nghiệm nước ngoài, Tòa án tối cao vẫn có thể có vị trí, vai trò lớn hơn trong bảo hiến, bảo vệ các quyền cơ bản của công dân.

Phù hợp với nguyên tắc Quốc hội tối cao, Việt Nam có thể tham khảo lý thuyết bảo hiến tương đối được phát triển ở các quốc gia có truyền thống Nghị viện ở Canada, Anh và New Zealand. Theo mô hình này, các tòa án độc lập có quyền phân tích và đưa ra phán quyết về sự không phù hợp của các đạo luật so với các quy phạm hiến pháp, nhưng đồng thời cho phép cơ quan lập pháp được phản ứng lại bằng cách: hoặc sửa lại phán quyết của tòa án hoặc sửa đổi luật sao cho phù hợp với các quy phạm hiến pháp. Cơ sở hợp lý của chế độ bảo hiến này là ở chỗ: Một là, có những bất đồng ý kiến hợp lý không thể tránh khỏi trong cách giải thích một điều khoản hiến pháp do tính trừu tượng cố hữu của ngôn ngữ hiến pháp; hai là, do vậy, cần có một cuộc đối thoại giữa cơ quan bảo hiến và cơ quan lập pháp trong các vấn đề giải thích hiến pháp. Đây là một cơ chế cho phép tăng cường sự cẩn trọng trong các vấn đề hiến pháp, nhất là khả năng của người dân và các đại diện của họ có thể phản ứng kịp thời khi một phán quyết hiến pháp sai lầm rõ ràng[2].

Nếu được áp dụng ở Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao sẽ có quyền xem xét, quyết định về tính hợp hiến của các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Đối với văn bản luật, Tòa án nhân dân tối cao có quyền phán quyết tính hợp hiến (hay bất hợp hiến) của các văn bản luật, nhưng đồng thời cho phép Quốc hội sửa luật cho phù hợp với Hiến pháp hoặc bác bỏ quyết định của Tòa án nhân dân tối cao (đa số tương đối hoặc đa số tuyệt đối 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội).


* PGS. TS. Đặng Minh Tuấn tại Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội

[1] Xem thêm Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, Mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng Hiến pháp ở một số nước trên thế giới (Sách chuyên khảo), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013.

[2] Theo Bùi Ngọc Sơn, Triển vọng của Hội đồng Hiến pháp ở Việt Nam, Xem: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/du-thao-sua-doi-nam-1992/2013/23845/Trien-vong-cua-Hoi-dong-Hien-phap-o-Viet-Nam.aspx