Vấn đề bảo vệ quyền con người trong các hoạt động tố tụng được thực hiện ở nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn đều có ý nghĩa và vai trò riêng. Thực tiễn hiện nay, trong phương diện tiếp cận của khoa học chính trị, pháp lý, chúng ta thường ít quan tâm đến việc bảo vệ quyền của người đang chấp hành bản án tại các trại giam. Thậm chí, khoa học gần như lãng quên giai đoạn tố tụng này.

Trong thực tiễn, ở giai đoạn thi hành án việc bảo vệ quyền của người đang chấp hành bản án có ý nghĩa quan trọng, có tính đặc thù về yếu tố chính trị, pháp lý, xã hội trước mắt và lâu dài đối với công dân. Tuy vậy, với ý nghĩa là giai đoạn chấp hành bản án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực thi pháp luật, là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của nhà nước, thì đây cũng là giai đoạn có thể quyền của công dân sẽ không được bảo đảm tốt nhất. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần phải tăng cương kiểm sát việc thi hành án để bảo vệ quyền của người đang chấp hành bản án tại các trại giam ở Việt Nam hiện nay.

Ở Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan Tư pháp độc lập có chức năng thực hành quyền công tố nhà nước và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp. Trong thực tiễn về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN với yêu cầu về tính độc lập, liêm chính của nền tư pháp thì vai trò, chức năng của VKSND đang được khẳng định ngày càng quan trọng hơn. Tại Điều 25, Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã định rõ: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hính sự, người có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi hành án hình sự”. Luật thi hành án hình sự năm 2010, tại khoản 2 Điều 10 cũng đã xác định: Cơ quan thi hành án hình sự bao gồm: Trại giam; cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện và cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu[1].

Có thể nói, trong các hoạt động kiểm sát tư pháp của VKSND thì hoạt động kiểm sát thi hành án hình sự tại các trại giam có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, kết quả của quá trình này sẽ trực tiếp quyết định đến kết quả cuối cùng của quá trình điều chỉnh pháp luật, bảo vệ quyền lợi pháp lý của công dân. Trong thời gian vừa qua, chúng tôi nhận thấy việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động thi hành án hình sự của VKSND tại các trại giam đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Công tác thi hành án ở một số trại giam trên phạm vi cả nước còn tồn tại các tình huống pháp lý bất thường, kết quả cải tạo, giáo dục, bảo vệ quyền đối với phạm nhân chưa đạt được mục đích đề ra mà xã hội mong muốn. Phẩm chất liêm chính, trong sáng, nêu gương của người cán bộ làm nhiệm vụ tại các trại giam còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu về năng lực, phẩm chất của người cán bộ cảnh sát nhân dân trong tình hình mới.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung chỉ rõ một số hạn chế, bất cập về công tác thi hành án tại một số trại giam ở nước ta làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người đang chấp hành bản án và những yếu kém trong việc thực hiện chức năng kiểm sát thi hành án của VKSND. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra các giải pháp nhằm khắc phục hạn chế, bảo vệ quyền con người trong một giai đoạn cụ thể của tố tụng hình sự.

1.   Thực trạng bảo vệ quyền của người đang chấp hành bản án, từ thực tiễn thi hành án tại trại giam nước ta hiện nay

Thực tiễn cho thấy hoạt động kiểm sát thi hành án hình sự của VKSND tại các trại giam chưa được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, hiệu quả đạt được còn nhiều hạn chế. Hệ quả đó đã trở thành một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những yếu kém của các trại giam trong công tác thi hành án ở nước ta trong thời gian vừa qua. Thực tế đó đã làm ảnh hưởng lớn đến chính sách bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Có thể kể đến một số hạn chế cơ bản sau:

Thứ nhất, công tác giáo dục, cải tạo, thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật đối với phạm nhân chữa đạt được mục đích, yêu cầu đề ra

Để đảm bảo hiệu quả về công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân ở các trại giam, Đảng ủy Tổng cục VIII, Bộ công an đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/ĐU ngày 26/3/2012 về “Tăng cường lãnh đạo công tác giáo dục phạm nhân, trại viên, học sinh giai đoạn 2012 - 2016” và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo kèm theo của Tổng cục. Bộ công an đã liên tục ban hành nhiều Thông tư chỉ đạo, hướng dẫn các trại giam về các lĩnh vực có liên quan. Về chức năng kiểm sát án hình sự tại các trại giam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã có nhiều văn bản chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn VKSND các cấp thực hiện trong thời gian vừa qua. Như vậy, có thể nói cơ sở chỉ đạo định hướng và cơ sở pháp lý là không thiếu, mục đích và yêu cầu đã rất đầy đủ. Tuy vậy, quá trình thực hiện thi hành án của các trại giam về cải tạo, giáo dục, thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật đối với phạm nhân còn rất nhiều tồn tại. Kết quả đó một phần phản ánh những yếu kém trong hoạt động kiểm sát án của VKSND các cấp. Từ thực tiễn quan sát, đánh giá và thông qua Báo cáo tổng kết của một số trại giam chúng tôi nhận thấy như sau:

(1). Công tác giáo dục phạm nhân mới chủ yếu chỉ thực hiện được việc phổ biến quy chế, giáo dục chung chưa thực hiện được việc giáo dục riêng, giáo dục cá biệt; việc tổ chức dạy nghề để tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân còn hạn chế, có trị chưa tổ chức thực hiện. Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGD&ĐT ngày 26/12/2012 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố và Hướng dẫn số 9191/C81-C84 ngày 21/10/20111 của Tổng cục VIII-BCA trên thực tế chưa được các trại giam quán triệt, thực hiện có hiệu quả.

(2) Liên quan đến việc thực hiện chế độ, chính sách pháp luật đối với phạm nhân, hiện nay ở các trại giam công tác phân loại quản chế, xếp loại thi đua nhiều lúc còn mang tính hình thức, chưa khách quan, chưa phục vụ tốt cho việc quản lý, giam giữ và giáo dục phạm nhân. Việc đánh giá, xếp loại, xét kỷ luật, xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù của phạm nhân còn nhiều điểm chưa đúng với quy định, vi phạm nội dung đã được nêu ra trong Thông tư số 37/2011 và Thông tư số 40/2011/TT-BCA về tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân. Khi đi tìm hiểu thực tế ở một số trại giam, chúng tôi nhận thấy việc ghi sổ tiền lưu ký theo mẫu chưa nghiêm túc, chưa đảm bảo được chế độ nghe đài, đọc báo; thăm gặp, điện thoại với người thân; thai sản, sinh đẻ, nuôi con dưới 36 tháng tuổi ở cùng. Thực tế nhiều trại giam vấn đang sự dụng phạm nhân lao động tất cả các ngày trong tuần, ngày lễ, tết nhưng không được nghỉ bù hoặc bồi dưỡng...(vi phạm Thông tư số 01/2012/TT-BCA, Thông tư số 08/2011/TT-BCA, Thông tư số 46/2011/TT-BCA). Việc bán hàng ở căng tin của một số trại giam chưa đảm bảo các yêu cầu cần thiết về cơ sở vật chất và vệ sinh an toàn thực phẩm. Do vậy, việc đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho phạm nhân còn chưa thực sự được đáp ứng đúng yêu cầu đề ra.

Thứ hai, công tác quản lý, giam giữ phạm nhân chưa thực sự được siết chặt, còn tồn tại nhiều tính huống pháp lý bất thường làm ảnh hưởng đến quyền lợi của phạm nhân

Công tác quản lý, giam giữ phạm nhân ở các trại giam là nội dung công việc rất phức tạp, có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của quá trình thi hành án hình sự nói chung. Để đảm bảo thực hiện tốt công việc này đòi hỏi lãnh đạo và toàn thể các chiến sỹ cảnh sát tại trai giam phải nghiêm túc thực hiện có trách nhiệm nội dung công việc thuộc thẩm quyền của mình.

(1)    Ở một số trại giam, chúng tôi nhận thấy còn có thực trạng giam chung các đối tượng trong cùng một vụ án, người chưa thành niên với người đã thành niên; phạm nhân được trích xuất với mức án trên 15 năm tù, chung thân với những phạm nhân có mức án dưới 15 năm tù. Công tác quản lý phạm nhân còn xẩy ra nhiều trường hợp vi phạm nội quy, vi phạm pháp luật, thông cung, bỏ trốn và tự sát. Công tác quản lý phạm nhân khi đi khám bệnh và điều trị tại các Bệnh viện gặp rất nhiều khó khăn do phải nằm điều trị với những bệnh nhân khác; việc tiếp nhận thuốc chữa bệnh do gia đình gửi đến tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn về chất lượng, nguồn gốc thuốc và trách nhiệm liên đới khi xẩy ra hậu quả xấu. Thậm chí đã có tính huống khi người nhà đến thăm phạm nhận đã cất dấu Heerôin, ma tuy trong các vật dụng làm quà một cách rất tinh vi và đã xây ra nhiều hệ quả phức tạp sau đó[2]. Các hệ quả đó có trách nhiệm của VKSND trong việc thực hiện chức năng kiểm sát công tác thi hành án ở các trại giam.

(2)    Hiện này, chúng tôi nhận thấy công tác kiểm tra, kiểm soát phát hiện và xử vật cấm ở các trại giam chủ yếu bằng biện pháp thủ công và kinh nghiệm, chưa có sự hỗ trợ tích cực của thiết bị nghiệp vụ và khoa học công nghệ nên hiệu quả còn rất hạn chế. Đã có nhiều đối tượng cất dấu được vật cấm mang vào buồng giam, việc phát hiện và xử lý sau đó còn chưa kịp thời, chưa chỉ rõ nguyên nhân, thủ đoạn để rút kinh nghiệm. Trước những diễn biến phức tạp đó, một số trại giam vẫn chưa coi trọng công tác xây dựng và diễn tập phương án bảo vệ thương xuyên; chưa thực hiện đúng quy định mỗi đội phạm nhân phải có ít nhất 02 cảnh sát bảo vệ, nhiều trại chỉ bố trí một quản giáo và đã vị phạm Thông tư số 68/2011/TT-BCA về hoạt động vũ trang bảo vệ trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ và dẫn giải phạm nhân.

(3)    Mối quan hệ phối hợp, trao đổi thông tin giữa các trại tạm giam, trại giam với các cơ quan chức năng để thực hiện tốt công tác quản lý giam giữ và giáo dục, cải tạo phạm nhân chưa được chú trọng, còn mang tính hình thức, chưa thương xuyên và chưa có cơ chế thống nhất, chưa có sự trao đổi thông tin kịp thời. Bên cạnh đó chúng tôi nhận thấy, Hệ thống các văn bản pháp luật và các quy phạm pháp luật quy định các vấn đề có liên quan đến việc quản lý, cải tạo, giáo dục phạm nhân nhiều điểm bị chồng chéo, không còn phù hợp với thực tiễn hoặc tuy có phù hợp nhưng tính khả thi không cao, nhất là các vấn đề liên quan đến chế độ chính sách, quy trình quản lý.

(4)    Một yếu tố khác cũng tất yếu ảnh hưởng đến kết quả quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân tại các trại giam là yếu tố tổ chức, quản lý và bồi dưỡng cán bộ thực thi nhiệm vụ tại các trại giam hiện nay. Đội ngũ cán bộ, chiễn sỹ nhiều điểm thiếu và yếu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ít được nâng cao, phân công cán bộ trái ngành, trái nghề không phát huy được hiểu quả như mong muốn; vẫn tồn tại một số trường hợp mất cảnh giác, hoặc vì vụ lợi cá nhân đã giúp sức, che dấu cho phạm nhân mua bán, vận chuyển và sự dụng vật cấm gây ra nhiều hậu quả phức tạp. Trên thực tế, xuất phát từ môi trường công việc phải tiếp xúc hằng ngày với các phạm nhân, một số cán bộ, chiễn sỹ làm nhiệm vụ của chúng ta đã không còn giữ được bản lĩnh chính trị, đạo đức và phẩm chất nghề nghiệp nên đã dẫn đến một số trường hợp đáng tiếc xây ra. Một phần nguyên nhân rất lớn trong công tác tổ chức, quản lý cán bộ có trách nhiệm của VKSND khi chưa thường xuyên theo giõi, kiểm sát chặt chẽ nghiệp vụ thi hành án của các chiễn sỹ đang làm nhiệm vụ tại các trại giam.

Thứ ba, việc thực hiện án cải tạo không giam giữ đối với các phạm nhân tại các địa phương còn rất lỏng lẻo, chưa đảm bảo tính giáo dục

Nhìn chung công tác thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tù cho h­ưởng án treo ở các địa phương còn rất nhiều hạn chế. Công tác chỉ đạo triển khai các văn bản pháp luật của nhà nước chưa được coi trọng ở cả cấp huyện và cấp xã. Việc triển khai công tác này ở các địa phương còn mang tính hình thức, thiếu sự chỉ đạo thống nhất, đồng bộ. Chưa thường xuyên tuyên truyền sâu rộng về các Nghị định của Chính phủ và các văn bản pháp luật liên quan; chưa thống nhất được đầu mối giúp UBND cấp xã quản lý về công tác này; chưa tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cho chính quyền cấp xã. Công tác thống kê người bị kết án tại các địa phương chưa được thực hiện. Cho đến nay, cả cấp xã và cấp huyện đều không có số liệu cụ thể, chính xác về số đối tượng bị kết án đang chấp hành án tại địa phương. Công tác kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm đối với lĩnh vực này chưa được chú trọng thực hiện.

Việc thực hiện các quy định của pháp luật ở UBND cấp xã chưa nghiêm, chưa đáp ứng yêu cầu của công tác này. Công tác quản lý hồ sơ chưa được coi trọng và chưa theo đúng quy định của pháp luật. Hồ sơ không do người được phân công trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kết án thiết lập mà được thiết lập, lưu giữ tập trung ở UBND cấp xã, song còn tản mạn, phân tán, không đầy đủ và không có bút lục. Cá biệt ở một số xã, một số hồ sơ không có quyết định thi hành án trích lục bản án của toà án, sổ sách quản lý người bị kết án còn rất sơ sai, ghi chép cẩu thả. Số người bị kết án về địa phương chấp hành án không được lập danh sách theo dõi thường xuyên; việc ra quyết định phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kết án chưa được thực hiện đầy đủ. Các địa phương hiện vẫn đang đồng nhất việc phân công đầu mối giúp UBND cấp xã quản lý công tác này với việc phân công người trực tiếp giám sát giáo dục người bị kết án.

Những tồn tại trên do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có một số nguyên nhân chính sau: Nhận thức trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp của các ngành, các cấp, của cấp uỷ, chính quyền cấp xã và các ban ngành, đoàn thể ở địa phương về công tác này còn chưa chặt chẽ; đội ngũ cán bộ của chính quyền cấp xã thường xuyên biến động, thiếu những kiến thức pháp luật về công tác thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tù cho h­ưởng án treo; năng lực, trách nhiệm của người được phân công trực tiếp giám sát đối tượng còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Tuy vậy, cũng cần phải nhận thấy rằng vai trò của VKSND trong chức năng kiểm sát án treo, án cải tạo không giam giữ là rất mơ nhạt, chưa được phát huy theo đúng thẩm quyền và thậm chí có lúc VKSND thực sự mất khả năng kiểm sát loại án này tại các địa phương.

2.   Một số giải pháp nhằm bảo vệ quyền của người đang chấp hành bản án tại các trại giam ở Việt Nam hiện nay thông qua chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân

Xuất phát từ thực tiễn thi hành bản án tại các trại giam đang làm ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người chấp hành bản án và từ những yếu kém của VKSND trong việc thực hiện chức năng kiểm sát thi hành án hình sự, chúng tôi đề xuất một số giai pháp sau đây:

Thứ nhất, tăng cường kỹ năng kiểm sát nhằm phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong công tác quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân

Để kiểm sát việc chấp hành pháp luật của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, Kiểm sát viên cần lập hồ sơ theo dõi quá trình chấp hành pháp luật, làm cơ sở để áp dụng các biện pháp nghiệp vụ như kiểm sát bất thường, yêu cầu tự kiểm tra và báo cáo kết quả. Việc thu thập tài liệu, thông tin có thể thực hiện qua các nguồn như kết quả theo dõi hoạt động quản lý và giáo dục người chấp hành phạt tù của trại giam. Kết quả kiểm sát đó phải được báo cáo đến chủ thể có thẩm quyền, kiến nghị các giải pháp giải quyết đúng pháp luật. Đồng thời Kiểm sát viên cũng phải thường xuyên xem xét các kiến nghị của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, người đang chấp hành hình phạt và người thân của họ về các vấn đề phát sinh đến hoạt động thi hành án của trại giam. Việc kiểm tra, xác minh có thể được thực hiện tại địa phương nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù đang tại ngoại; kiểm tra thực tế tại các buồng giam, buồng kỷ luật, nơi lao động, dạy nghề, nơi thăm gặp, căng tin, bếp, nhà ăn tập thể của phạm nhân... để phát hiện vi phạm trong việc quản lý giam giữ, thực hiện các chế độ đối với phạm nhân.

Về việc kiểm tra hồ sơ, sổ sách, tài liệu về quá trình quản lý, giáo dục phạm nhân. Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu khi kiểm sát trực tiếp trại giam, trại tạm giam. Qua nghiên cứu hồ sơ phạm nhân, có thể phát hiện được những vi phạm trong quản lý giam, giữ, trong việc thực hiện chế độ đối với phạm nhân cũng như thực hiện các quyền không bị pháp luật tước bỏ của họ. Kiểm sát viên cần kiểm tra các loại hồ sơ có liên quan như: Hồ sơ phạm nhân trốn, phạm nhân chết, trích xuất, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; hồ sơ kỷ luật, phạm tội mới… Thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên chú ý so sánh các tài liệu để phát hiện vi phạm, nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến vi phạm, xác định phạm vi trách nhiệm đối với vi phạm được phát hiện. Kiểm danh, kiểm diện và gặp hỏi phạm nhân khi cần thiết; kiểm tra bệnh xá, gặp hỏi cán bộ y tế về tình hình chăm sóc y tế đối với phạm nhân. Kiểm tra nơi lao động, dạy nghề cho phạm nhân cũng có thể phát hiện những vi phạm trong việc quản lý và giáo dục phạm nhân, vi phạm trong việc canh gác, dẫn giải hoặc sử dụng phạm nhân, chẳng hạn như việc sử dụng phạm nhân làm việc không đúng với yêu cầu của công tác giáo dục, cải tạo...

Các hoạt động của Kiểm sát viên đều phải đư­ợc thể hiện trong hồ sơ thông qua việc ghi chép, sao in, lập biên bản (nếu cần thiết) có chữ ký xác nhận của đoàn kiểm sát và cơ quan thi hành án phạt tù để phục vụ cho việc kết luận và kiến nghị, kháng nghị.Tùy từng đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà Viện kiểm sát áp dụng các phương thức kiểm sát cho phù hợp.

Thứ hai, tăng cường áp dụng các biện pháp kháng nghị, kiến nghị nhằm phát hiện và loại trừ các vi phạm trong quá trình tố tụng bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của công dân

Viện kiểm sát nhân dân phải luôn tăng cường áp dụng các biện pháp pháp luật như kháng nghị, kiến nghị nhằm loại trừ vi phạm pháp luật trong việc thi hành án hình sự, coi đây là những biện pháp pháp luật có tầm quan trọng để cơ quan có vi phạm khắc phục, sửa chữa. Việc áp dụng các biện pháp pháp luật đòi hỏi tính chính xác, kịp thời và khách quan đảm bảo công tác kiểm sát thi hành án hình sự đem lại hiệu quả cao, đồng thời thể hiện vai trò kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND.

Trong thời gian vừa qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều vụ án oan sai nghiêm trọng đã được phát hiện trong quá trình thi hành án trên phạm vi cả nước. Thực trạng đó đã phản ánh các yếu kém, hạn chế khó có thể chập nhận được trong quá trình áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng ở nước ta. Điều quan trọng hơn nữa là lợi ích hợp pháp của công dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng và làm giảm niền tin của nhân dân vào tính nghiêm minh của pháp luật và sự liêm chính của nền tư pháp. Nếu như những người và cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ đầy đủ và chính xác các quy định, thì chắc chắn toàn bộ các chứng cứ, tình tiết của vụ án đã được thu thập, đánh giá khách quan, đầy đủ và toàn diện, sự thật của vụ án sẽ được làm sáng tỏ, không phạm phải những sai lầm nghiêm trọng như trong một số vụ án vừa qua. Qua thực tiến đó đã khẳng định sự quan trọng của việc tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định tố tụng, cũng như sự khách quan, toàn diện, tinh thần trách nhiệm trong việc thu thập, xem xét và đánh giá chứng cứ của các cơ quan và người tiến hành tố tụng. Bất kỳ sự sai sót, vi phạm hoặc thiếu trách nhiệm nào cũng đều có khả năng dẫn đến việc khởi tố, truy tố và xét xử oan sai.

Vì vậy, hoạt động kiểm sát của VKSND tại các trại giam khi được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và có hiểu quả sẽ góp phận phát hiện và kịp thời kháng nghị, kiến nghị giải quyết loại bỏ các vụ án oan sai có thể tồn tại trong quá trình tố tụng ở nước ta trong thời gian tới đây.

Thứ ba, nâng cao quy chế phối hợp công tác giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình kiểm sát thi hành án, bảo vệ quyền của phạm nhân

Để thực hiên tốt hơn nữa công tác kiểm sát thi hành án hình sự trong thời gian tới cần phải nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phối hợp giữa VKSND với Tòa án nhân dân, Cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp và UBND các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội trong toàn bộ Hệ thống chính trị nhằm thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về công tác kiểm sát thi hành án hình sự. Quá trình kiểm sát nếu phát hiện vi phạm, VKSND tiến hành làm rõ nguyên nhân dẫn đến vi phạm để kiến nghị, kháng nghị, qua kết luận hoặc bằng văn bản yêu cầu khắc phục những vi phạm đã xây ra. Bên cạnh đó VKSND phải thường xuyên kiểm tra việc thực hiện khắc phục vi phạm của trại giam và các cơ quan có liên quan có hành vi vi phạm trong công tác thi hành án hình sự làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của phạm nhân.

Tóm lại, để đảm bảo một nền pháp chế nghiêm minh, chính quyền hoạt động hiệu quả đặt dưới sự điều chỉnh thống nhất của pháp luật, quyền công dân được bảo vệ thì tất yếu phải nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp ở Việt Nam hiện nay. Từ thực trạng về những hạn chế, tồn tại của hoạt động thi hành án hình sự ở các trại giam trên địa bàn một số địa phương, bài viết này chúng tôi đã nêu ra một số nhóm giải pháp cần thiết nhằm cung cấp những luận cứ khoa học, có ý nghĩa cho nhà nước đối với hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật của nhà nước trong thời gian tới đây. Trong đó, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm của nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện thể chế tố tụng bảo vệ quyền con người.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Hiến pháp năm 2013;

2.     Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2015;

3.     Luật tố tụng hình sự năm 2015;

4.     Luật thi hành án hình sự năm 2010;

5.     Quyết định số 35/QĐ-VKSTC-V4 ngày 29/1/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc xác định đối tượng của công tác kiểm sát thi hành án hình sự.

6.     Báo cáo tổng kết Thi hành án hình sự năm 2015, Phương hướng, nhiệm vụ công tác 2016 của đơn vị Trại giam Xuân Hà, tỉnh hà Tĩnh;

7.     TS. Trần Quốc Tổ, “Một số bất cập về quản lý giam giữ tại các Trại tạm giam, nhà tạm giữ và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Cảnh sát nhân dân, số 2/2015.



[1] Xem thêm: Quyết định số 35/QĐ-VKSTC-V4 ngày 29/1/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc xác định đối tượng của công tác kiểm sát thi hành án hình sự.

[2] Xem: Báo cáo tổng kết Thi hành án hình sự năm 2015, Phương hướng, nhiệm vụ công tác 2016 của đơn vị Trại giam Xuân Hà, tỉnh hà Tĩnh.