1. Đặt vấn đề

Trong Nhà n­ước pháp quyền, các quyền con ng­ười đư­ợc pháp luật bảo đảm thực hiện và đ­ược bảo vệ không bị xâm phạm. Ghi nhận và tổ chức bảo đảm quyền con ngư­ời trên thực tế là thể hiện của một Nhà n­ước nhân bản, tiến bộ, dân chủ, văn minh. Các quyền con ng­ười được bảo đảm thực hiện trong việc ghi nhận về pháp lý, trong hoạt động thi hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật của Nhà n­ước. Bảo đảm thực hiện quyền con ngư­ời không chỉ là nội dung, bản chất mà còn trở thành mục tiêu cao nhất trong xây dựng Nhà n­ước pháp quyền ở cỏc quốc gia.

Tố tụng hình sự là lĩnh vực hoạt động nhà nước nhạy cảm liên quan đến quyền con người. Hơn ở đâu hết, quyền con người dễ bị xâm phạm nhất trong tố tụng hình sự và hậu quả của sự xâm phạm đó thường là rất nghiêm trọng cả về vật chất, thể chất và tinh thần. Quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự đ­ược ghi nhận và bảo vệ trên cơ sở cân nhắc rằng hoạt động tố tụng hình sự gắn liền với vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất là tội phạm và chức năng của Nhà nước là phát hiện nhanh chóng, kịp thời và xử lý công minh ngư­ời phạm tội; nh­ưng đồng thời hoạt động tố tụng hình sự cũng liên quan rất nhiều tới các quyền con ng­ười.

Bảo đảm quyền con người được thực hiện trong pháp luật tố tụng hình sự bằng các phương thức, biện pháp khác nhau. Trong đó, các biện pháp quan trọng nhất là bằng các quy định đúng đắn, hợp lý, khả thi trong pháp luật tố tụng hình sự và đảm bảo thực hiện các quy định đó trên thực tế.

Vì vậy, có thể nói trên cơ sở Hiến pháp mới 2013 và cỏc tiờu chuẩn quốc tế, nghiờn cứu hoàn thiện các quy định của BLTTHS liên quan đến bảo đảm quyền con người, đánh giá việc thực hiện các quy định đó trên thực tế để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng là một trong những nội dung quan trọng của việc nghiên cứu bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự hiện nay.

2. Các tiêu chuẩn quốc tế về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự

Các tiêu chuẩn quốc tế về bảo đảm quyền con người được thể hiện ở các văn kiện quốc tế khác nhau. Đó là:

1/ Các văn kiện quốc tế tổng quát về quyền con người như: Hiến chương Liên Hợp Quốc về quyền con người, 1945; Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế, 1948; Tuyên bố Viên và Chương trình Hành động, 1993; Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc, 2000...

2/ Các văn kiện về các quyền và tự do cơ bản của con người như: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá, 1966; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966; Nghị định thư không bắt buộc thứ hai của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 về huỷ bỏ án tử hình, 1989; Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988; Các quy tắc hành động của cán bộ thi hành pháp luật, 1979; Các Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về các biện pháp không giam giữ (Các Quy tắc Tô-ki-ô), 1990; Các nguyên tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về hoạt động tư pháp với người chưa thành niên (Các Quy tắc Bắc Kinh), 1985; Các hướng dẫn về làm việc với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự, 1971; Các nguyên tắc cơ bản về tính độc lập của toà án, 1985; Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư, 1990; Các hướng dẫn về vai trò của công tố viên, 1990…

Nghiên cứu các văn kiện quốc tế nêu trên, chúng tôi thấy rằng các tiêu chuẩn phổ biến về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự được thể hiện đấy đủ và tập trung tại Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966. Trong Công ước này các nguyên tắc cơ bản của tư pháp hình sự trong tổ chức và hoạt động, các quyền con người của người bị buộc tội và người tham gia tố tụng khác… được quy định cụ thể, rõ ràng để các quốc gia thành viên quán triệt thực hiện.

Theo quy định của Công ước:

- Mọi người đều bình đẳng trước các toà án. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự.

- Mặc dù việc xét xử được tiến hành công khai, nhưng báo chí và công chúng có thể không được phép tham dự toàn bộ hoặc một phần của phiên toà vì lý do đạo đức, trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia hoặc vì lợi ích cuộc sống riêng tư của các bên tham gia tố tụng, hoặc trong những hoàn cảnh đặc biệt mà việc xét xử công khai có thể làm phương hại đến lợi ích của công lý. Tuy nhiên mọi phán quyết trong vụ án hình sự phải được tuyên công khai, trừ trường hợp vì lợi ích của người chưa thành niên hay vụ việc liên quan đến những tranh chấp hôn nhân hoặc quyền giám hộ trẻ em.

- Người bị buộc tội có quyền được suy đoán vô tội, tức có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật; có quyền bào chữa, được tự bào chữa hoặc có người bào chữa và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi; không bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một tội phạm mà người đó đã bị kết án hoặc đã được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật và thủ tục tố tụng hình sự của mỗi nước; có quyền yêu cầu được bồi thường khi bị buộc tội oan, trừ trường hợp cơ quan tố tụng chứng minh rằng việc sự thật không được làm sáng tỏ tại thời điểm đó hoàn toàn hoặc một phần là do lỗi của người bị kết án gây ra…

- Các quyền tố tụng của người bị buộc tội được đảm bảo thực hiện đầy đủ như quyền được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình; ; được xét xử nhanh chóng, kịp thời mà không bị trì hoãn một cách vô lý; được có mặt trong khi xét xử; được thẩm vấn hoặc yêu cầu thẩm vấn những nhân chứng buộc tội cũng như gỡ tội; không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội; có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên toà[1].

- Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Bất cứ người nào bị kết án là phạm tội đều có quyền yêu cầu toà án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật.

- Tố tụng hình sự áp dụng đối với những người dưới 18 tuổi phải xem xét tới độ tuổi của họ và mục đích thúc đẩy sự phục hồi nhân cách của họ…

Tinh thần trên của các văn kiện quốc tế đã được các quốc gia thành viên quán triệt nội luật hóa khá đầy đủ trong pháp luật quốc gia ở các mức độ hiến định cũng như luật định. Cũng có ý kiến cho rằng, các quốc gia theo mô hình tố tụng tranh tụng, quyền con người trong tố tụng hình sự được bảo đảm thực hiện tốt hơn. Chúng tôi cho rằng không hoàn toàn như thế. Vấn đề không phải là quốc gia theo mô hình tố tụng nào; mà là quốc gia đã thể hiện như thế nào về việc bảo đảm quyền con người phù hợp với mô hình theo đuổi. Theo GS. Richard S. Shine Trên thực tế không có hai mô hình riêng biệt trong hình tố tụng hình sự Hoa Kỳ. Chỉ có một hình tố tụng hình sự là kiểm soát hiệu quả tội phạm thông qua một quy trình thủ tục được quản lý được thiết kế để đảm bảo kết án đúng người đúng tội mà vẫn bảo vệ được quyền con người của bất cứ cá nhân nào bị kết án, cũng như quyền con người của tất cả các công dân, ngay cả khi họ không bị buộc tội”[2].

2. Hiến pháp năm 2013 về quyền con người và cơ chế bảo đảm quyền con người từ góc độ tố tụng hình sự

2.1. Quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người

Có thể nói rằng ghi nhận rõ ràng, cụ thể quyền con người và có những biện pháp bảo đảm quyền con người là một trong những thành tựu quan trọng của hoạt động lập hiến ở nước ta. Các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được đưa lên Chương 2 của Hiến pháp sau Chương về hệ thống chính trị. Ngoài các quy định về quyền con người, Hiến pháp cũng có những quy định để bảo đảm thực hiện quyền con người.

Theo chúng tôi, từ góc độ tố tụng hình sự, có thể khái quát nội dung Hiến pháp về quyền con người và bảo đảm quyền con người trong các điểm cơ bản sau đây:

- Hiến pháp ghi nhận các quyền con người rất dễ có nguy cơ bị xâm phạm trong hoạt động tố tụng. Đồng thời với việc quy định quyền con người, Hiến pháp cũng quy định các bảo đảm cũng như trách nhiệm của Nhà nước để các quyền đó được thực hiện. Đó là quyền sống, tính mạng con người được pháp luật bảo hộ, không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật; quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang; quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn; quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác, không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác… là rất quan trọng.

- Hiến pháp quy định rõ ràng, đầy đủ quyền của người bị buộc tội. Nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định chính xác, đầy đủ hơn; người bị truy tố có quyền được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai; không bị kết án hai lần vì một tội phạm; người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; quyền bình đẳng trước pháp luật…

Đặc biệt, việc Hiến pháp quy định nguyên tắc suy đoán vô tội với nội dung mới rất tiến bộ, đầy đủ, phù hợp với quan niệm chung của pháp luật quốc tế. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đây là thể hiện rất quan trọng, có ý nghĩa lớn trong tố tụng hình sự, đòi hỏi phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để cụ thể hóa trong pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn tố tụng.

2.2. Cơ chế hiến định bảo vệ, bảo đảm quyền con người

Cùng với việc quy định quyền con người, Hiến pháp cũng quy định những bảo đảm quan trọng cho việc bảo vệ quyền con người nói chung, trong tố tụng hình sự nói riêng. Hiến pháp quy định về trách nhiệm của Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quyền con người; Điều 3 đã khẳng định Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Trong Chương 2 của Hiến pháp, đồng thời với việc quy định quyền con người, bao giờ cũng có quy định về trách nhiệm của Nhà nước hoặc bảo hộ của pháp luật nhằm thực hiện các quyền đó trên thực tế.

Ngoài ra, Hiến pháp cũng có các bảo đảm khác như quy định chức năng, nhiệm vụ cũng như nguyên tắc tổ chức, hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhất là Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân.

Hiến pháp quy định chức năng xét xử, thực hiện quyền tư pháp, nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người của Tòa án nhân dân. Việc Hiến pháp quy định Tòa án nhân dân được tổ chức theo cấp xét xử, không quy định Tòa án đặc biệt; quy định Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, phán quyết một người có tội và áp dụng trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với người phạm tội; quy định nhiệm vụ đầu tiên của Tòa án nhân dân là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người; quy định các nguyên tắc hoạt động của Tòa án nhân dân như xét xử công khai, độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm trong xét xử, hai cấp xét xử, tranh tụng trong xét xử… có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người nói chung, quyền của người bị buộc tội nói riêng.

Hiến pháp quy định chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân; quy định các nguyên tắc độc lập tương đối trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cũng là cơ sở hiến định quan trọng cho việc cụ thể hóa trong luật tố tụng hình sự nhằm bảo đảm để Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, không bỏ lọt tội phạm; nhưng cũng bảo đảm, bảo vệ quyền con người, không làm oan người vô tội…


PGS. TS. Trần Văn Độ - Nguyên phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao tham gia Báo cáo tại Hội trường A Trường Đại học Vinh ngày 16/12/2017

Nói tóm lại, Hiến pháp năm 2013 về quyền con người đã có bước phát triểm vượt bậc trong tư duy cũng như thực tiễn về bảo đảm quyền con người ở nước ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Các quy định về quyền con người và bảo đảm quyền con người trong hiến pháp là cơ sở hiến định quan trọng để xây dựng hệ thống pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở nước ta. Từ góc độ luật tố tụng hình sự, các quy định của Hiến pháp lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi vì, hơn ở đâu hết, hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động phán quyết về hành vi tội phạm của người bị buộc tội và áp dụng trách nhiệm hình sự, biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất đối với người đó; kèm theo đó là hoạt động có thể tác động rất lớn đến quyền con người nói chung, quyền của người bị buộc tội nói riêng.

3. Những vấn đề về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự

Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự được thực hiện bằng các biện pháp khác nhau, gồm các bảo đảm pháp lý, bảo đảmvề tổ chức, bảo đảm về con người và bảo đảm về trác nhiệm[3].

Từ góc độ bảo đảm pháp luật tố tụng hình sự, nghiên cứu các quy định của BLTTHS 2015, chúng tôi thấy Bộ luật đã cơ bản thể hiện được các chuẩn mực cơ bản quốc tế và tinh thần của Hiến pháp 2013 trong bảo đảm quyền con người. Đó là:

- Bộ luật đã quy định các nguyên tắc cơ bản liên quan đến bảo vệ quyền con người. Trong đó có các nguyên tắc quan trọng như nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân (Điều 8); Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 9); Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 10); Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân (Điều 11); Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân (Điều 12); Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13); Nguyên tắc không bị kết án hai lần vì một tội phạm (Điều 14); Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 16); các nguyên tắc xét xử của Tòa án nhân dân, trong đó có các nguyên tắc như độc lập xét xử, đảm bảo hai cấp xét xử (Điều 12-27)[4]

- BLTTHS đã hoàn thiện các quy định về các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, nhất là các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam; quy định cụ thể thẩm quyền, căn cứ và thời hạn áp dụng theo nguyên lý bảo đảm cho hoạt động tố tụng hiệu quả với việc hạn chế quyền con người khi thật cần thiết và ở mức tối thiểu nhất.

- Quy định tương đối rõ ràng địa vị tố tụng của các chủ thể tố tụng hình sự; đặc biệt là địa vị tố tụng của người tham gia tố tụng nói chung, của người bị buộc tội nói riêng. BLTTHS quy định khá cụ thể các quyền tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nhất là quyền bào chữa; quyền tranh tụng (chứng minh, thẩm vấn chéo); quyền khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố tụng…

- BLTTHS cũng quy định các thủ tục tố tụng đảm bảo cho hoạt động tố tụng khách quan, dân chủ, bảo đảm tăng cường yếu tố tranh tụng trong mô hình tố tụng xét hỏi; bảo đảm để các chủ thể tố tụng có thể thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình…[5]

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử những năm qua theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự cũng cơ bản đáp ứng yêu cầu bảo vệ, bảo đảm quyền con người. Các nguyên tắc tố tụng được tuân thủ; các quy định về biện pháp cưỡng chế, biện pháp ngăn chặn được thực hiện khá nghiêm túc; người tham gia tố tụng được đảm bảo thực hiện đấy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình; các thủ tục điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện theo đúng quy định… Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử cơ bản đúng pháp luật, góp phần tích cực vào đấu tranh phòng chống tội phạm; tình trạng oan, sai từng bước được khắc phục.

Tuy nhiên, từ góc độ bảo vệ quyền con người, hoạt động tố tụng theo BLTTHS hiện hành vẫn còn những bất cập, hạn chế. Đó là: chưa bảo đảm tuyệt đối các nguyên tắc tố tụng, nhất là nguyên tắc độc lập xét xử; tình trạng chưa bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người, nhất là các quyền bào chữa, các quyền bất khả xâm phạm; còn có tình trạng lạm dụng việc bắt, tạm giữ, tạm giam; các thủ tục tố tụng chưa bảo đảm thể hiện đầy đủ tính vô tư, khách quan và nguyên tắc tố tụng được quy định, chưa bảo đảm để người tham gia tố tụng thực hiện các quyền tố tụng của mình… Các hạn chế này một mặt do nguyên nhân từ các bất cập của pháp luật tố tụng hình sự; mặt khác do nhận thức, trình độ, bản lĩnh của người tiến hành tố tụng…

Như vậy, theo chúng tôi, từ góc độ bảo đảm quyền con người, các vấn đề sau đây đã được giải quyết khá tốt trong PLTTHS:

- Một là, đã xác định bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người là một trong những nhiệm vụ của BLTTHS. Bởi vì, toàn bộ các quy định của BLTTHS đều phục vụ cho hoạt động quan trọng, quyết định nhất là thực hiện quyền tư pháp, phán quyết một người có tội hay không và các biện pháp trách nhiệm áp dụng đối với người có tội;

- Hai là, đã hoàn thiện một bước các quy định về nguyên tắc tố tụng hình sự, trong đó có các nguyên tắc liên quan trực tiếp đến bảo vệ quyền con người;

- Ba là, hoàn thiện địa vị tố tụng của các chủ thể tố tụng hình sự theo hướng tăng cường các quyền tố tụng của người tham gia tố tụng, nhất là bên bào chữa; tăng trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong bảo đảm cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền tố tụng cả mình;

- Bốn là, đã hoàn thiện các quy định về các thời hạn tố tụng để bảo đảm quyền của người bị buộc tội được Tòa án xét xử nhanh chóng, kịp thời; rút ngắn thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn… không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án;

- Năm là, đã hoàn thiện các quy định về biện pháp ngăn chặn, nhất là các biện pháp hạn chế quyền tự do của con người. Quy định rõ ràng, cụ thể căn cứ áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, trong đó việc tạm giữ, tạm giam chỉ có thể áp dụng đối với người có căn cứ rõ ràng cho rằng có thể tiếp tục phạm tội, trốn tránh hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử;

- Sáu là, đã hoàn thiện thủ tục tố tụng thể hiện đầy đủ nguyên tắc tố tụng hình sự, nhất là nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử; đảm bảo cho các chủ thể tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định; thực hiện nguyên tắc chế ước, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) trong hoạt động tố tụng giải quyết vụ án…

4. Kết luận và kiến nghị

Việc ban hành Hiến pháp năm 2013, BLTTHS 2015 và các văn bản pháp luật khác có liên quan là thành tựu rất quan trọng trong hoạt động lập hiến, lập pháp của nước ta nói chung, từ góc độ bảo vệ quyền con người nói riêng.

Qua phân tích các tiêu chuẩn quốc tế, các quy định của Hiến pháp và BLTTHS 2015 và nghiên cứu thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, chúng tôi thấy pháp luật tố tụng hình sự cần được hoàn thiện thêm để đáp ứng yêu cầu của xây dựng Nhà nước pháp quyền, Cải cách tư pháp ở nước ta hện nay.

Theo chúng tôi, việc hoàn thiện các bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự cần được nghiên cứu thực hiện theo các tư tưởng cơ bản sau đây:

- Từ góc độ pháp luật tố tụng hình sự:

+ Không nên phân chia các chủ thể tố tụng thành cơ quan, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; mà nên phân chia theo chức năng tố tụng là chủ thể buộc tội, chủ thể gỡ tội, Tòa án và xác định địa vị tố tụng của các chủ thể tương ứng với chức năng đó;

+ Quy định rõ ràng, cụ thể căn cứ áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, trong đó việc tạm giữ, tạm giam chỉ có thể áp dụng đối với người có căn cứ rõ ràng cho rằng có thể tiếp tục phạm tội, trốn tránh hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử; không lấy tính chất nghiêm trọng của tội phạm được khởi tố làm căn cứ duy nhất để tạm giữ, tạm giam; thu hẹp thẩm quyền bắt, tạm giữ, tạm giam;

+ Nghiên cứu quan điểm chỉ giao cho Tòa án quyết định các biện pháp tước tự do của con người, bao gồm cả các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam;

 + Nghiên cứu hủy bỏ các thẩm quyền tố tụng trái với chức năng tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng như bỏ thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; bỏ thẩm quyền khởi tố vụ án cuả Tòa án; bỏ quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án; bỏ quyền điều tra của Tòa án trong giải quyết vụ án hình sự…;

+ Hoàn thiện quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự. Nên chăng, mọi khiếu nại của người tham gia tố tụng nên giao cho Tòa án giải quyết để bảo đảm tính chế ước, khách quan và nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người của Tòa án…

- Từ góc độ bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động tố tụng:

+ Hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện các biện pháp điều tra đặc biệt (Chương XVIBLTTHS) để bảo quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân;

+ Hướng dẫn trình tự, thủ tục ghi âm, ghi hình trong các hoạt động tố tụng và ảo quản, sử dụng kết quả ghi âm, ghi hình đó;

+ Hướng dẫn thực hiện Điều 298 BLTTHS về giới hạn của việc xét xử khi Tòa án xét xử về tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố…

- Từ góc độ tổ chức:

+ Hoàn thiện tổ chức cơ quan tư pháp (Tòa án) và các cơ quan khác thực hiện các hoạt động tư pháp theo hướng tăng cường công tác cán bộ, cơ chế, chính sách; bảo đảm độc lập của hoạt động tư pháp nói chung, đặc biệt là độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.

+ Nâg cao năng lực, trình độ, bản lĩnh nghề nghiệp của các chủ thể tố tụng, nhất là các chủ thể tiến hành buộc tội, kết án người bị buộc tội.

Tài liệu tham khảo

1. PGS. TS. Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên), Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, NXB Chính trị quốc gia, H. 2016.

2. Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Quyền con người trong tố tụng hình sự, VKSNDTC - Ủy ban nhân quyền Australia, Hà Nội, tháng 3/2010.

3. Richard S. Shine, Mô hình tố tụng Hoa kỳ, Báo cáo theo yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam, 2010.

4. Bảo đảm quyền của người bị buộc tội trong các văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người, Học viện tư pháp và Viện FES LB Đức, Hội thảo khoa học “Bảo vệ quyền con người trong Tố tụng hình sự”, Hội An, tháng 12/2014.

5. TS. Lê Hữu Thể (Chủ nhiệm), Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp, Đề tài khoa học cấp bộ, Viện nghiên cứu lập pháp, Hà Nội, 2017



[1] TS. Lương Thị Mỹ Quỳnh, Bảo đảm quyền của người bị buộc tội trong các văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người, Học viện tư pháp và viện FES LB Đức, Hội thảo khoa học “Bảo vệ quyền con người trong Tố tụng hình sự”, Hội an, tháng 12/2014.

[2] Richard S. Shine, Mô hình tố tụng Hoa kỳ, Báo cáo theo yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam, 2010.

[3] Xem cụ thể: PGS. TS. Nguyễn Thái Phúc, Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Quyền con người trong tố tụng hình sự, VKSNDTC - Ủy ban nhân quyền Australia, tháng 3/2010,  tr. 20-30.

[4] GS. TSKH. Đào Trí Úc, Hệ thống những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015, trong sách “Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hnhf sự năm 2015, NXB Chính trị quốc gia, H. 2016, trang 54 - 85.

[5] Xem thêm, PGS. TS. Nguyễn Hòa Bình, Tổng quan những nội dung lớn sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015,, trong sách “Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, NXB Chính trị quốc gia, H. 2016, trang 13-53.