Tóm tắt

Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng là yêu cầu vô cùng quan trọng. Bởi hoạt động tố tụng là hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng nhằm đưa ra phán quyết giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu của các đương sự liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ, trong đó có quyền con người. Vì vậy, pháp luật tố tụng phải được xây dựng nhằm hướng tới bảo đảm quyền con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm. Pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam được xây dựng đã phần nào đạt được yêu cầu nói trên. Bài viết phân tích khái niệm quyền con người và bảo đảm quyền con người trong tố tụng dân sự, phân tích sự thể hiện của việc bảo đảm quyền con người trong các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng Dân sự và đưa ra một số gợi mở cho các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự nhằm bảo đảm quyền con người.

1. Khái niệm quyền con người và đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự

Theo Văn phòng Cao ủy về quyền con người của tổ chức Liên hợp quốc thì quyền con người là quyền không thể tách rời của mỗi con người, không phụ thuộc vào dân tộc, nơi sống, giới tính, đảng phái, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ, hoặc những dấu hiệu khác. Tất cả con người đều bình đẳng có được quyền con người, mọi dân tộc đều được loại bỏ sự phân biệt đối xử, phân biệt chủng tộc. Những quyền này có mối liên hệ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời[1].

Quyền con người luôn luôn được ghi nhận và đảm bảo bởi luật pháp và các hiệp định, pháp luật quốc tế, những nguyên tắc chung của pháp luật và những nguồn luật quốc tế khác. Luật quốc tế về quyền con người giao cho quốc gia có nghĩa vụ phải thực hiện hành động với mục tiêu khuyến khích và bảo vệ quyền và tự do cơ bản của con người.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 dành toàn bộ chương II để quy định các quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Theo đó, con người có các quyền: quyền sống, quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe; quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật đời tư; quyền được bảo hộ danh dự, uy tín, nhân phẩm; quyền có nơi ở hợp pháp và bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng; quyền sở hữu tư nhân đối với tài sản, quyền thừa kế;… Như vậy, quyền con người nói một cách đơn giản là quyền mà một cá nhân sẽ có được, chỉ cần họ là con người. Không có bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có quyền tước bỏ, xâm phạm quyền con người nếu không có lý do chính đáng được quy định bởi luật.

Bảo đảm các quyền con người, quyền công dân là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, các tổ chức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của họ đã được pháp luật ghi nhận.[2]Như vậy, bảo đảm quyền con người là việc nhà nước, với tư cách là chủ thể nắm quyền lực công, là người đại diện của nhân dân, ghi nhận các quyền con người trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Hiến pháp và cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật, cũng như tạo ra các tiền đề về mọi mặt, xây dựng cơ chế để các quyền con người được thực thi trên thực tế. Các bảo đảm pháp lý rất đa dạng, phong phú, trước hết là sự ghi nhận các quyền con người, quyền công dân, đến việc tạo các điều kiện pháp lý, các điều kiện tổ chức, việc thiết lập cơ chế, bộ máy chuyên trách bảo đảm các quyền con người, quyền công dân.[3]

Trong mối quan hệ với Luật Dân sự, Luật Tố tụng Dân sự đóng vai trò là luật hình thức, quy định về tổ chức hệ thống cơ quan tư pháp dân sự, thẩm quyền xét xử vụ việc dân sự cũng như toàn bộ các quy tắc để giải quyết vụ việc dân sự nhằm đảm bảo cho các quyền dân sự trong Luật Dân sự (đóng vai trò là luật nội dung) được đảm bảo thực thi đúng, đầy đủ trên thực tế. Tuy vậy, hiện nay khái niệm tố tụng dân sự cũng được hiểu khác nhau theo mô hình tố tụng và pháp luật của các quốc gia khác nhau. Trên thế giới tồn tại hai mô hình tố tụng: mô hình tranh tụng và mô hình thẩm xét.

Mô hình tranh tụng chủ yếu được áp dụng ở các nước trong hệ thống thông luật - common law. Nội hàm của khái niệm tố tụng dân sự ở các nước này được hiểu là hình thức tố tụng áp dụng cho tất cả các tranh chấp phi dân sự.[4] Những tranh chấp này có thể là tranh chấp dân sự, thương mại, hôn nhân - gia đình, hay hành chính. Ở mô hình tố tụng này không có khái niệm về tố tụng hành chính hay luật hành chính như ở nước ta và các nước theo hệ thống pháp luật dân sự - civil law. Các tranh chấp về thuế, xét lại các quyết định của cơ quan quản lý nhà nước… đều nằm trong các vụ việc giải quyết theo tố tụng dân sự.[5]

Ở các nước theo hệ thống luật dân sự, điển hình là Pháp thì sự phân biệt giữa công pháp và tư pháp là nền tảng của hệ thống lý luận pháp lý. Do vậy, việc phân loại pháp luật tố tụng dân sự cũng dựa trên căn cứ đó.[6] Theo đó, những tranh chấp quyền lợi giữa một bên do nhà nước đại diện và một bên là người dân nhằm bảo vệ trật tự công cộng không thuộc phạm vi của tố tụng dân sự. Tố tụng dân sự được hiểu là thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các tư nhân với nhau thuộc lĩnh vực tư pháp.[7] Tuy vậy, hiện nay trên thế giới một số nước cũng tách tố tụng thương mại ra khỏi tố tụng dân sự, do yếu tố đặc thù của hoạt động thương mại nhằm thúc đẩy hơn nữa sự phát triển cho hoạt động thương mại, ví dụ như Liên bang Nga.

Ở Việt Nam, pháp luật tố tụng có bóng dáng của sự ảnh hưởng từ pháp luật tố tụng của các nước theo truyền thống luật dân sự. Theo đó, Việt Nam xây dựng các đạo luật về tố tụng riêng cho từng lĩnh vực, bao gồm tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng hình sự.Trong đó, luật tố tụng dân sự là ngành luật hình thức cho cả ngành luật dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh doanh - thương mại, tức là nhiều ngành luật thuộc tư pháp.[8]Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, ở Việt Nam không có sự phân biệt giữa hai ngành luật công pháp và tư pháp. Sở dĩ như vậy là do lý thuyết của pháp luật Xô viết coi hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa là một hệ thống thống nhất bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật tồn tại trong một thể gắn bó hữu cơ với nhau. Trong hệ thống pháp luật thống nhất này không tồn tại sự phân biệt luật công và luật tư. Bởi vì, cách phân loại hệ thống pháp luật thành luật công và luật tư theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa vốn dự trên quan điểm cho rằng trong quan hệ xã hội tồn tại các lợi ích công và lợi ích tư. Lý thuyết pháp luật Xô viết không quan niệm như thế, mà coi quan hệ xã hội là khách thể hay đối tượng điều chỉnh của pháp luật.[9]

Tố tụng dân sự được hiểu là tổng thể các quy trình, thủ tục, công đoạn có mối quan hệ chặt chẽ, liên tiếp với nhau để thông qua đó các chủ thể tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật, đưa ra các biện pháp cần thiết để giải quyết các tranh chấp dân sự một cách khách quan, công bằng, đúng pháp luật và đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự.[10] Trong đó, ở Việt Nam, nội hàm của tố tụng dân sự như đã phân tích chỉ giới hạn trong trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp và yêu cầu giữa các tư nhân với nhau. Hay quan hệ dân sự trong tố tụng dân sự được hiểu là quan hệ giữa các cá nhân, pháp nhân với nhau, trong đó các cá nhân, pháp nhân này bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm. Vì vậy, tố tụng dân sự như một thủ tục tố tụng khác biệt trong sự so sánh với tố tụng hành chính, tố tụng hình sự. Thủ tục tố tụng dân sự được hiểu là trình tự, thủ tục mà Tòa án áp dụng để giải quyết những tranh chấp, xung đột về quyền và lợi tích dân sự cũng như để giải quyết những yêu cầu dân sự hợp pháp của người dân.[11] Thủ tục tố tụng dân sự được quy định một cách chặt chẽ bởi pháp luật bởi vì thông qua thủ tục tố tụng dân sự thì quyền và lợi ích hợp pháp của người dân nói chung mới được đảm bảo một cách công bằng, minh bạch.

Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân. Vì vậy, đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự đòi hỏi phải tiếp cận trong tổng thể quyền con người được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác gắn với toàn bộ quá trình tố tụng dân sự, từ giai đoạn khởi kiện đến thụ lý, đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và ra bản án và thi hành án dân sự, cũng như các thủ tục khác của tố tụng dân sự như thủ tục rút gọn, cung cấp và bảo vệ chứng cứ, thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và cả trong các tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng. Trong phạm vi bải viết này, tác giả chỉ giới hạn trong phạm vi phân tích vấn đề đảm bảo quyền con người trong các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự.

2. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự bảo đảm quyền con người

2.1. Khái niệm, ý nghĩa của các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự

Nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự được hiểu là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, và các chủ thể tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự.[12] Về giới hạn phạm vi các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự Việt Nam vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Theo đó, một số tác giả cho rằng, các nguyên tắc cơ bản phải là các nguyên tắc chỉ đạo cho toàn bộ các hoạt động tố tụng hoặc hầu hết các hảnh vi, giai đoạn tố tụng. Nếu nó chỉ đạo cho một một nhóm hành vi hay một giai đoạn nào đó thì đó là nguyên tắc của chế định chứ không phải là nguyên tắc của cả ngành luật. Theo quan điểm này thì chỉ xác định có chín nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự.[13] Một số tác giả cho rằng các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự bao gồm tất cả nguyên tắc được quy định tại Chương II, Phần thứ nhất của Bộ luật Tố tụng dân sự, gồm 23 nguyên tắc.[14] Ở đây, tác giả phân tích sự thể hiện của việc bảo đảm quyền con người trên cả 23 nguyên tắc cơ bản được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

Các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng pháp luật, nội dung pháp luật tố tụng dân sự, trong việc giải thích và áp dụng pháp luật tố tụng dân sự cũng như hoạt động tố tụng của các chủ thể. Những nguyên tắc này đóng vai trò là kim chỉ nam, định hướng cho các hoạt động tố tụng dân sự, nhằm đảm bảo cho hoạt động tố tụng được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định, đảm bảo cho đương sự vận dụng hết quyền của mình trong quá trình tố tụng cũng như giám sát hoạt động của người tiến hành tố tụng. Từ đó đảm bảo quá trình tố tụng không diễn ra tùy tiện, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

2.2. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự bảo đảm quyền con người

Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự được quy định tại Chương II, Phần thứ nhất Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 gồm 23 nguyên tắc. Các nguyên tắc này được xây dựng là sự kế thừa và phát triển từ các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự được quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011. Nhìn chung các nguyên tắc này được đánh giá là được diễn đạt cụ thể hơn, dễ hiểu hơn, thực tế hơn và do vậy dễ áp dụng hơn.[15] Và trên hết Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được xây dựng với mục tiêu thể chế hóa quy định của Hiến pháp 2013, nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Vì vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết vụ việc dân sự trong hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.[16] Vì vậy, ngay trong chế định các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng dân sự đã cụ thể hóa mục tiêu này. Bảo đảm quyền con người trong tố tụng dân sự được thể hiện trong các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự ở những điểm cụ thể sau đây:

Thứ nhất, nội hàm các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự đã ghi nhận và cụ thể hóa nội dung của một số quyền con người. Các quyền con người được nhà nước bảo hộ được ghi nhận trong văn bản pháp lý cao nhất của Quốc gia, đó là Hiến pháp. Cụ thể hóa quyền con người của Hiến pháp, các văn bản pháp luật, trong đó có BLTTDS 2015 tiếp tục khẳng định và ghi nhận các quyền con người trong quá trình tố tụng.

Điều 3 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015) quy định nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự. Theo đó, “Mọi hoạt động tố tụng dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật này.” Với nguyên tắc này, BLTTDS quy định nghĩa vụ của mọi chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng phải tuân thủ theo các quy định của BLTTDS. Nguyên tắc này ghi nhận cho cá nhân, tổ chức khi tham gia tiến trình tố tụng, nếu có dấu hiệu không tuân thủ đúng pháp luật tố tụng thì tiến trình đó không được pháp luật công nhận. Và chủ thể bị xâm phạm về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm bởi tiến trình tố tụng trái pháp luật đó đều được yêu cầu bồi thường, cải chính, xin lỗi công khai. Như vậy, nguyên tắc này là cơ sở pháp lý đầu tiên ghi nhận quyền con người được Nhà nước bảo vệ. Nguyên tắc quy định tại Điều 3 BLTTDS 2015 có thể coi là sự cụ thể hóa của quyền con người được ghi nhận tại Điều 30 Hiến pháp 2013: “1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.”

Sự ghi nhận quyền con người trong Luật Tố tụng dân sự còn được biểu hiện thông qua nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bỏa vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Điều 4 BLTTDS 2015 quy định: “1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. 2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Nguyên tắc này khẳng định, mọi chủ thể cho rằng quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình bị chủ thể khác xâm phạm thì đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lí do không có điều luật áp dụng. Nguyên tắc này được coi là điểm mới đột phá, là một bước ngoặt về tư duy, quan điểm lập pháp, có ảnh hưởng quyết định đến sự thay đổi hoạt động tố tụng tại Tòa án nhân dân.[17]Sự bổ sung vào nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp quy định “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” đã khẳng định lại quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân được Nhà nước bảo hộ. Trong đó, có quyền được yêu cầu Tòa án bảo vệ mọi lợi ích, mọi quyền con người của mình khi cho rằng có bất kỳ hành vi xâm phạm nào từ phía chủ thể khác, không phụ thuộc vào việc lợi ích đó đã được pháp luật điều chỉnh hay chưa.

Tuy vậy, nguyên tắc này đặt ra vẫn còn một số nghi ngại, vì một số quan điểm cho rằng, khi không có luật quy định thì căn cứ nào được dùng để xác định lợi ích nào là lợi ích hợp pháp? Thẩm phán sẽ căn cứ vào đâu để xác định lẽ công bằng?...

Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tronng tố tụng dân sự cũng là một nguyên tắc ghi nhận sự cụ thể hóa quyền con người trong Hiến pháp. Điều 16 Hiến pháp 2013 quy định: 1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.” Cụ thể hóa quyền hiến định này của con người Điều 8 BLTTDS 2015 quy định: “1. Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án. 2. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự.” Một điểm mới của BLTDS 2015 so với BLTTDS 2004 đó là, nếu như Điều 8 BLTTDS 2004 chỉ ghi nhận quyền bình đẳng cho công dân trước tòa án thì Điều 8 BLTTDS 2015 ghi nhận quyền bình đẳng này cho tất cả mọi người, bất kể là người đó có phải là công dân Việt Nam hay không. Sự thay đổi này được đánh giá là điểm nhấn quan trọng của BLTTDS 2015 trong việc bảo đảm quyền con người.[18] Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân đều bình đẳng trước Tòa án và Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng của các đương sự trong tố tụng dân sự, không phân biệt quốc tịch, giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Nếu các đương sự không thực hiện được quyền bình đẳng của mình hoặc bị đối xử không bình đẳng thì Tòa án phải chịu trách nhiệm.

Hay nguyên tắc tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự quy định: “Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng dân sự có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình; trường hợp này phải có người phiên dịch. Người tham gia tố tụng dân sự là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại (Điều 20 BLTTDS 2015). Nguyên tắc này tiếp tục ghi nhận và cụ thể hóa quyền bình đẳng trước pháp luật của con người vừa ghi nhận và cụ thể hóa quyền con người được sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp tại Điều 16, Điều 42 Hiến pháp 2013. Theo đó, chủ thể tiến hành tố tụng phải tôn trọng và đảm bảo quyền được sử dụng ngôn ngữ và chữ viết riêng của dân tộc của đương sự khi tham gia tố tụng. Để đảm bảo quyền này cho đương sự thì nguyên tắc khẳng định bắt buộc phải có người phiên dịch khi đương sự thực hiện quyền này của mình.

Tuy nhiên, thực hiện nguyên tắc này trên thực tế, PGS. TS. Nguyễn Thị Hoài Phương đặt ra vấn đề: thứ nhất, người tham gia tố tụng không sử dụng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc mình mà sử dụng một ngôn ngữ khác thì có được chấp nhận không? Thứ hai, khi đương sự nộp các giấy tờ tài liệu chứng cứ bằng tiếng dân tộc mình ở Tòa án thì có được chấp nhận không hay là phải dịch và công chứng sang tiếng Việt?[19] Những vấn đề này cần phải giải đáp thấu đáo để vừa đảm bảo được quyền con người vừa đảm bảo quá trình tố tụng diễn ra công bằng, nhanh chóng và đảm bảo được công lý.

Thứ hai, các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự tạo ra các tiền đề pháp lý bảo vệ quyền con người. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng Dân sự không chỉ ghi nhận và cụ thể hóa nội dung một số quyền con người mà còn tạo ra các tiền đề pháp lý cho việc bảo vệ quyền con người. Vấn đề này cũng được thể hiện rõ ngay trong các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng Dân sự. Điều này được thể hiện trong một số điểm cụ thể sau đây:

Một là nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự, Điều 11 BLTTDS 2015 quy định: “1. Việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. 2. Khi biểu quyết về quyết định giải quyết vụ án dân sự, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán.” Nguyên tắc này khẳng định Hội thẩm nhân dân tham gia vào phiên tòa sơ thẩm, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn và Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết. Việc thực hiện chế độ xét xử có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân nhằm tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước, đảm bảo quyền lợi của nhân dân và của đương sự, đảm bảo dân chủ trong xét xử, giúp Thẩm phán giải quyết hợp tình, hợp lý vụ án nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người.

Hai là, nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật tại Điều 12 BLTTDS 2015. Theo đó, nội dung nguyên tắc này được quy định như sau: “1. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. 2. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, việc giải quyết việc dân sự của Thẩm phán dưới bất kỳ hình thức nào.” Việc quy định nguyên tắc này nhằm mục đích đảm bảo cho phán quyết của Tòa án được công minh, từ đó bảo vệ tốt nhất quyền con người, quyền công dân và các quyền và lợi ích hợp pháp khác của người dân. Tính độc lập ở đây là độc lập với mọi yếu tố và mọi chủ thể bên ngoài, như cơ quan hành pháp, cơ quan lập pháp, thậm chí độc lập giữa tòa án cấp dưới và tòa án cấp trên và độc lập của cá nhân thẩm phán khi thu thập chứng cứ cũng như độc lập củacác thành viên hội đồng xét xử. Tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật này nhằm tránh cho việc Hội đồng xét xử chịu sự tác động của các áp lực bên ngoài cũng như các thành viên Hội đồng xét xử không chịu sự chi phối lẫn nhau dẫn đến đưa ra bản án, quyết định không đúng pháp luật, xâm phạm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Nguyên tắc này cũng đi liền với nguyên tắc đảm bảo sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự tại Điều 16 BLTTDS 2015. Với việc quy định hai nguyên tắc này thì Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân vừa được độc lập, chủ động trong xét xử nhưng cũng phải đảm bảo vô tư, khách quan để tránh sự tùy tiện, thiên vị trong việc giải quyết các vụ việc dân sự.

Ba là, nguyên tắc tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai, Điều 15 BLTTDS 2015. Nguyên tắc công khai trong xét xử của Tòa án trong hoạt động tố tụng nói chung, trong tố tụng dân sự nói riêng là nhằm tăng cường trách nhiệm của Tòa án đối với nhiệm vụ của mình, đảm bảo dân chủ trong hoạt động tư pháp để mọi người có thể tham dự phiên toà và giám sát hoạt động xử án.[20] Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai nhằm đảm bảo quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo vệ nhưng đồng thời việc xét xử công khai cho phép phóng viên, báo chí tự do tham dự phiên tòa, và tự do sử dụng kỹ thuật ghi âm, ghi hình, thậm chí phát trực tiếp cũng đặt ra vấn đề bảo vệ quyền con người về bí mật cá nhân. So với BLTTDS 2004 thì BLTTDS 2015 đã có sự sửa đổi nhằm bảo vệ quyền con người về bí mật đời tư. Theo đó, đương sự có thể yêu cầu tòa án xét xử kín trong trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự.

Bốn là, nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng dân sự, Điều 21 BLTTDS 2015. Theo đó, Điều 21 BLTTDS 2015 quy định: “1. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. 2. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này”.Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của nước ta. Theo quy định tại Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.” Việc tham gia của Viện kiểm sát vào quá trình tố tụng dân sự nhằm kiểm tra, giám sát hoạt động tuân theo pháp luật của các chủ thể tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người yếu thế. Nguyên tắc kiểm sát hoạt động xét xử đã tạo tiền đề cho việc đảm bảo quyền con người.

Thứ ba, các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự tạo điều kiện cho cá nhân thực hiện quyền con người. Bên cạnh việc ghi nhận và tạo tiền đề cho việc đảm bảo thực hiện quyền con người thì các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự cũng tạo điều kiện cho cá nhân thực hiện quyền con người. Điều này được thể hiện qua các nguyên tắc sau:

Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, Điều 24 BLTTDS 2015: Nguyên tắc này là sự cụ thể hóa của khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013: “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Việc tranh tụng tại Tòa án cho phép đương sự được cung cấp chứng cứ, được tự quyết, được thể hiện ý kiến, lập luận của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền tranh tụng cũng cho phép đương sự không trực tiếp tranh tụng trước tòa mà sẽ thực hiện quyền tranh tụng này thông qua luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thông qua việc đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, pháp luật tố tụng dân sự đã tạo điều kiện cho đương sự được thực hiện quyền con người, quyền tự bảo vệ mình cũng như buộc chủ thể khác phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu có hành vi làm ảnh hưởng đến các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, Điều 17 BLTTDS 2015: Với quan niệm cho rằng, bản án sơ thẩm vẫn có thể có những sai lầm nhất định do trình độ, nhận thức hoặc cảm tính cá nhân… Để khắc phục những sai sót có thể xảy ra đó, pháp luật tạo điều kiện cho các đương sự sau khi xét xử lần đầu có cơ hội yêu cầu tòa án cấp trên xem xét lại một lần nữa bằng thủ tục phúc thẩm.[21] Việc quy định hai cấp xét xử đã tạo điều kiện cho cá nhân có thể chủ động yêu cầu Tòa án xem xét lại vụ án nếu quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi bản án không phù hợp quy định của pháp luật.

Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự: Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền con người về khiếu nại, tố cáo: “1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật. 3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.” Trong BLTTDS 2015, Điều 25 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng dân sự. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho người đã khiếu nại, tố cáo.”Với quy định này, mọi cá nhân được thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật của người tiến hành tố tụng hoặc của bất kỳ cá nhân tổ chức nào mà xâm phạm đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình. Thông qua việc quy định và đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của cá nhân, tổ chức, pháp luật tố tụng dân sự đã tạo điều kiện cho cá nhân có thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình; nâng cao trách nhiệm cho chủ thể tiến hành tố tụng trong việc thực hiện các hành vi, ra quyết định, bản án; tránh sự tùy tiện xâm phạm đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

3. Một số gợi mở thêm cho các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng Dân sự nhằm đảm bảo quyền con người

Các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam rõ ràng đã thể hiện nỗ lực của các nhà lập pháp trong việc đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự. Các nguyên tắc này thực tế đã phát huy được vai trò của mình trong việc ghi nhận, tạo tiền đề cũng như tạo điều kiện cho việc thực hiện quyền con người của cá nhân.

Bên cạnh đó, như đã phân tích, thực tế thực hiện các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng Dân sự cũng đặt ra những vấn đề không nhỏ, có thể ảnh hưởng đến những khía cạnh khác của quyền con người. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là kim chỉ nam định hướng cho cả quá trình xây dựng pháp luật về tố tụng dân sự lẫn việc thực hiện các hoạt động tố tụng. Các quy định khác của Bộ luật Tố tụng dân sự là sự cụ thể hóa của các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, việc các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự bảo đảm quyền con người sẽ đảm bảo cho các pháp luật Tố tụng dân sự thực sự bảo đảm được quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Để làm được như vậy, các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự cần cân nhắc một số điểm sau đây:

Thứ nhất, đối với nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Nguyên tắc này được ghi nhận trong pháp luật tố tụng của hầu hết các nước trên thế giới nhằm đảm bảo phán quyết của Tòa án được công minh, công bằng, không trái pháp luật. Từ đó, bảo vệ quyền con người. Tuy vậy, nội hàm nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật tại Điều 12 BLTTDS 2015 chỉ mới dừng lại ở quy định sự độc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân và sự độc lập giữa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân với cơ quan, tổ chức khác. Nguyên tắc xét xử độc lập phải được hiểu bao gồm độc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân với các cơ quan, tổ chức khác, độc lập giữa Tòa án cấp dưới và Tòa án cấp trên, độc lập của Thẩm phán trong quá trình thu thập chứng cứ, và độc lập giữa các thành viên vả Hội đồng xét xử. Vì vậy, cần bổ sung nguyên tắc độc lập trong xét xử giữa Tòa án cấp dưới và Tòa án cấp trên, nhằm tạo điều kiện cho các thẩm phán cấp dưới chủ động, độc lập đưa ra phán quyết trong quá trình xét xử, tránh tình trạng xin ý kiến chỉ đạo của Tòa cấp trên khi gặp tình huống khó.

Thứ hai, đối với nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, cần phân định rõ thẩm quyền của Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán. Ở Việt Nam không có sự phân biệt giữa vấn đề pháp lý và vấn đề sự kiện. Vì thế, nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự được hiểu là Hội thẩm nhân dân cũng là thành viên của Hội đồng xét xử và có quyền hạn như Thẩm phán trong việc quyết định mọi vấn đề của vụ án và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết quyết định giải quyết vụ án. Với nội hàm như vậy, và thực tế ý kiến của Hội thẩm nhân dân chiếm đa số thì Thẩm phán cũng phải chấp nhận.[22] Trong khi đó, hầu hết Thẩm phán có trình độ hiểu biết pháp luật cao hơn Hội thẩm nhân dân. Điều này có thể dẫn đến phán quyết đưa ra chưa thật sự hợp lý, xâm phạm đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thiết nghĩ, Việt Nam nên học hỏi pháp luật của nhiều nước trên thế giới như Anh, Mỹ, Nhật Bản, Hội thẩm nhân dân tham gia phiên Tòa nhưng chỉ có thẩm quyền quyết định vấn đề sự kiện và cho ý kiến về vấn đề pháp lý. Còn Thẩm phán là người chịu trách nhiệm chính về vấn đề pháp lý trong vụ việc.

Kết luận

Bảo đảm quyền con người là một trong nhưng yêu cầu đối với tất cả các ngành luật, bởi vì xét cho cùng pháp luật cũng là để phục vụ cho con người, vì con người. Hoạt động tố tụng là hoạt động quan trọng nhất để nhằm đạt được mục tiêu bảo đảm quyền con người. Chính vì vậy, việc hoàn thiện và thực thi pháp luật tố tụng đảm bảo quyền con người là vấn đề cần phải được nghiên cứu có hệ thống trong Tố tụng Dân sự, Tố tụng Hình sự, Tố tụng Hành chính. Và trong tương lai cũng có thể xem xét đến vấn đề Tòa Hiến pháp để xét xử những văn bản vi hiến xâm phạm quyền con người.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, 2012.
  2. Đào Trí Úc - Chủ biên, Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2002, tr.345.
  3. Nguyễn Thị Hoài Phương - chủ biên (2016), Bình luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam.
  4. Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thị Thu Hương, Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp luật hành chính Việt Nam (Một số vấn đề có tính phương pháp luận và định hướng nghiên cứu), Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, số 28 (2012).
  5. Tống Công Cường (2007), Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam - Nghiên cứu so sánh, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
  6. Trần Kiên (2016), Hoàn thiện pháp luật dân sự trong bối cảnh chuyển đổi: lý thuyết và mô hình lập pháp, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Một số điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015”, Khoa Luật - Trường Đại học Ngoại thướng, tháng 6/2016.
  7. Trương Thị Hồng Hà, Quyền con người trong tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=27, truy cập ngày 26/11/2017.
  8. Trần Thị Hồng Nhung - chủ biên (2016), Giáo trình Luật Tố tụng Dân sự, Trường Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
  9. Card F. Goodman (2004), Justice and civil Procedure in Japan (Tư pháp và Tố tụng dân sự Nhật Bản), Oceana Publication Inc.
  10. Jonh Henry Merryman (1985), The civil law trandision (Truyền thống pháp luật dân sự), Stanford University Press.
  11. http://www.ohchr.org/RU/Issues/Pages/WhatareHumanRights.aspx, truy cập ngày 22/11/2017

 



[2]Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thị Thu Hương, Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp luật hành chính Việt Nam (Một số vấn đề có tính phương pháp luận và định hướng nghiên cứu), Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, số 28 (2012), tr. 1.

[3]Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thị Thu Hương, tlđd, tr. 2.

[4]Tống Công Cường (2007), Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam - Nghiên cứu so sánh, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 6.

[5]Tống Công Cường (2007), tlđd, tr. 6.

[6]Jonh Henry Merryman (1985), The civil law trandision (Truyền thống pháp luật dân sự), Stanford University Press, p. 68.

[7]Card F. Goodman (2004), Justice and civil Procedure in Japan (Tư pháp và Tố tụng dân sự Nhật Bản), Oceana Publication Inc., p. 453.

[8]Tống Công Cường (2007), tlđd, tr.9.

[9]Trần Kiên (2016), Hoàn thiện pháp luật dân sự trong bối cảnh chuyển đổi: lý thuyết và mô hình lập pháp, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Một số điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015”, Khoa Luật - Trường Đại học Ngoại thướng, tháng 6/2016, tr. 18-19.

[10] Trương Thị Hồng Hà, Quyền con người trong tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=27, truy cập ngày 26/11/2017.

[11]Trần Thị Hồng Nhung (chủ biên), Giáo trình Luật Tố tụng Dân sự, Trường Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2017, tr.2.

[12]Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, 2012, tr.23.

[13]Xem Tống Công Cường (2007), tlđd, tr. 40 - 78.

[14]Trần Thị Hồng Nhung (2017), tlđd, tr. 12 - 24.

[15]Trần Thị Hồng Nhung (2017), tlđd, tr. 12.

[16]Nguyễn Thị Hoài Phương - chủ biên (2016), Bình luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, Lời giới thiệu.

[17]Nguyễn Thị Hoài Phương (2016), Bình luận về các nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Bình luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr.33.

[18]Nguyễn Thị Hoài Phương (2016), tlđd, tr.46.

[19]Nguyễn Thị Hoài Phương (2016), tlđd, tr.62.

[20]Đào Trí Úc - Chủ biên, Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2002, tr.345.

[21]Tống Công Cường, tlđd, tr.74.

[22]Tống Công Cường, tlđd, tr.65.